Ngày xưa, ở một trang trại nước Anh, có hai vợ chồng bác nông dân và cô con gái duy nhất. Có một chàng trai lịch thiệp hay tới chơi, mong cưới cô làm vợ. Tối nào chàng tới, cả nhà cũng dọn bữa, và cô gái xuống hầm lấy bia. Một tối, vừa mở vòi thùng bia, cô ngước lên, thấy một cái vồ gỗ ai đó cắm trên xà nhà từ bao giờ. Cô nghĩ: “Nếu mình lấy chàng, rồi có một cậu con trai, rồi cậu bé lớn lên, xuống hầm lấy bia, mà cái vồ rơi trúng đầu thì khổ thân con biết bao!” Nghĩ tới đó, cô đặt cây nến xuống, ngồi khóc hu hu, quên cả vòi bia đang chảy.
Đợi mãi không thấy con lên, bà mẹ xuống hầm xem. Nghe con kể chuyện cái vồ, bà vỗ đùi: “Ôi, khổ thân cháu tôi!” rồi ngồi xuống khóc cùng. Một lúc sau, ông bố cũng xuống, nghe xong cũng ngồi khóc to nhất nhà. Còn bia thì cứ chảy lênh láng khắp nền hầm. Chàng trai ngồi một mình trong bếp, chờ mãi chẳng thấy ai, bèn xuống hầm. Chàng thấy cả ba người đang khóc rưng rức, chân ngập trong bia.
Nghe kể xong, chàng trai bật cười, với tay rút luôn cái vồ trên xà xuống. Rồi chàng nói: “Tôi đã đi nhiều nơi mà chưa thấy ai lo xa như cả nhà mình. Bây giờ tôi sẽ lên đường. Nếu tìm được ba người còn ngốc hơn thế, tôi sẽ quay về cưới cô.” Nói rồi chàng chào cả nhà và đi, để lại ba người ngơ ngác, lần này thì khóc thật vì chàng đã bỏ đi.
Chàng đi mãi, tới một căn nhà tranh có mái lợp cỏ mọc um tùm. Một bà lão đang hì hục đẩy con bò leo lên chiếc thang. Bà bảo: “Cỏ trên mái tươi thế kia, phí lắm, tôi phải cho bò lên ăn.” Chàng trai bảo: “Sao bà không cắt cỏ ném xuống cho bò?” Bà lão không nghe, vẫn đẩy được bò lên, rồi buộc dây vào cổ nó, thả đầu dây qua ống khói, quấn vào cổ tay mình cho bò khỏi đi lạc. Ai ngờ con bò trượt chân, tuột khỏi mái, còn bà lão bị kéo tuột lên ống khói, kẹt giữa chừng, lem luốc bồ hóng. Chàng trai vội chạy tới đỡ con bò xuống đất, gỡ bà lão ra, rồi lắc đầu: “Đây là kẻ ngốc thứ nhất!”
Tối hôm ấy, chàng nghỉ ở một quán trọ, phải ngủ chung phòng với một ông khách lạ. Sáng ra, chàng thấy ông khách treo cái quần lên hai núm tủ, rồi lùi ra xa, chạy thật nhanh, nhảy phốc về phía cái quần. Nhảy hụt, ông lại lùi ra, lại chạy, lại nhảy, mồ hôi nhễ nhại. Ông thở hổn hển: “Mặc quần là việc mệt nhất đời. Sáng nào tôi cũng phải nhảy cả tiếng mới lọt được vào.” Chàng trai cười, chỉ cho ông cách xỏ từng chân một. Ông khách sững sờ: “Ôi, sao tôi không nghĩ ra nhỉ!” Chàng trai thầm nhủ: “Kẻ ngốc thứ hai!”
Đêm sau, chàng đi qua một làng nọ, thấy dân làng đứng kín quanh cái ao, người cầm cào, người cầm chổi, khua khoắng dưới nước. Hỏi ra, họ kể: “Mặt trăng rơi xuống ao rồi, chúng tôi đang vớt nó lên!” Chàng trai bảo họ ngẩng đầu nhìn lên trời, rằng mặt trăng vẫn ở trên đó, dưới ao chỉ là cái bóng thôi. Nhưng chẳng ai chịu nghe, họ còn mắng chàng không biết gì. Chàng trai bật cười, thầm nhủ: “Đây là kẻ ngốc thứ ba, mà là cả một làng!”
Thế là đủ ba kẻ ngốc hơn cả nhà cô gái. Chàng trai quay về trang trại, cưới cô gái làm vợ. Cả nhà mừng rỡ, làm tiệc linh đình. Từ đó, mỗi khi cô vợ lo những chuyện chưa xảy ra, chàng lại cười, kể về con bò trên mái nhà, cái quần trên núm tủ và mặt trăng dưới đáy ao. Còn cái vồ ấy ư? Chàng treo nó lên tường cho chắc, để không ai phải khóc vì nó nữa.