Về kệ Thế giới

Chàng chăn cừu xứ Myddvai

Khoảng 6 phút · 7 cảnh

Bên hồ nước trên dãy Núi Đen xứ Wales, chàng chăn cừu gặp nàng tiên hồ và cưới được nàng với một lời hứa: không bao giờ vỗ vào nàng ba lần vô cớ. Câu chuyện về lời hứa, nỗi nhớ và món quà chữa bệnh để lại cho các con. Truyện dân gian xứ Wales kể nhẹ nhàng cho cả nhà.

Cốt truyện theo: Truyện dân gian xứ Wales (Joseph Jacobs, 1892)

Ngày xưa, trên dãy Núi Đen ở xứ Wales, có một cái hồ nhỏ nước sẫm màu, tên là Llyn y Fan Fach. Ngày ngày, chàng chăn cừu làng Myddvai lùa đàn cừu non lên bờ hồ gặm cỏ, còn chàng thì nằm nghỉ trên bãi cỏ mềm. Một hôm, mặt hồ bỗng gợn sóng. Từ dưới làn nước sẫm, ba thiếu nữ nhô lên, rũ những giọt nước lấp lánh trên mái tóc, rồi nhẹ nhàng lướt vào bờ, đi dạo giữa đàn cừu. Các nàng đẹp như không phải người trần. Chàng chăn cừu đem lòng thương ngay cô gái đứng gần mình nhất.

Chàng đưa cho nàng miếng bánh mì mang theo. Nàng nếm thử, rồi khẽ hát: “Bánh chàng nướng cứng quá, chẳng dễ gì bắt được em đâu.” Rồi nàng cười vang, chạy ào xuống hồ. Hôm sau, chàng mang theo bánh nướng thật non. Nàng lại nếm, lại hát: “Bánh chàng còn sống quá, em chẳng chịu chàng đâu.” Và nàng lại biến vào làn sóng. Đến ngày thứ ba, chàng nhặt được mấy chiếc bánh trôi dập dềnh ven hồ, bèn đem mời nàng. Lần này nàng mỉm cười, nhận lấy.

Nàng hứa sẽ làm vợ chàng, nếu hôm sau chàng nhận ra được nàng giữa các chị em. Sáng hôm sau, ba thiếu nữ giống hệt nhau đứng trên bờ hồ. Chàng nhìn thật kỹ, rồi nhận ra nàng nhờ sợi quai dép buộc rất riêng. Nàng bảo: “Em sẽ là người vợ hiền như mọi người vợ trên đời. Nhưng nếu chàng vỗ vào người em ba lần mà không có lý do, em sẽ phải ra đi.” Chàng nghĩ chuyện ấy sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Nàng cất tiếng gọi, và từ dưới hồ bước lên ba con bò cái, hai con bò đực kéo cày và một con bò mộng trắng, làm của hồi môn. Chàng dắt nàng về nhà làm cô dâu.

Năm tháng trôi qua êm đềm. Hai vợ chồng có ba người con trai khỏe mạnh. Một hôm, cả nhà đi dự lễ đặt tên cho một em bé trong làng. Đường xa, nàng than mỏi chân, chàng bảo nàng ra đồng bắt ngựa. Nàng đáp: “Được, nhưng chàng vào nhà lấy giúp em đôi găng tay em để quên.” Chàng lấy găng ra thì thấy nàng vẫn đứng đó, bèn cầm găng vỗ khẽ lên vai nàng: “Đi đi, mình.” Nàng nhìn chàng, buồn buồn: “Đó là lần thứ nhất.”

Lần khác, cả nhà đi ăn cưới. Giữa tiếng đàn tiếng hát vui vẻ, nàng bỗng bật khóc nức nở. Chàng vỗ vai nàng hỏi: “Sao mình lại khóc?” Nàng đáp: “Vì đôi trẻ kia đang bước vào những ngày vất vả, mà vất vả cũng sắp đến với chàng. Đó là lần thứ hai. Chàng hãy cẩn thận, lần thứ ba là lần cuối.” Từ đó, chàng giữ gìn hết sức. Nhưng rồi một hôm, trong buổi tiễn đưa một cụ già trong làng về nơi an nghỉ, nàng lại bật cười. Chàng quên mất, đặt tay lên vai nàng: “Lúc này mà mình cười sao?” Nàng đáp: “Em cười vì người ra đi đã hết mọi lo âu. Còn nỗi buồn của chàng thì đã tới. Đó là lần thứ ba, chúng ta phải chia tay rồi.”

Nàng về nhà, đứng giữa sân, cất tiếng gọi đàn bò: “Bò đốm, bò vằn, bò mặt trắng, bò xám, bò mộng trắng ơi, theo ta về nhà nào!” Đàn bò nghe gọi liền bỏ chuồng đi theo, cả chú bê đen nhỏ cũng lon ton chạy theo mẹ. Hai con bò đực đang cày ngoài ruộng cũng kéo luôn cả cái cày đi theo nàng. Nàng dẫn cả đàn lên núi, tới bờ hồ, rồi cùng chúng chìm xuống làn nước sẫm. Người ta kể, đến tận bây giờ, trên sườn núi vẫn còn một vệt rãnh dài, chính là vết cái cày kéo lê hôm ấy.

Chàng chăn cừu và ba người con buồn nhớ nàng biết bao. Các con trai thường lên bờ hồ ngồi đợi mẹ. Rồi một lần, khi các con đã thành những chàng trai trưởng thành, nàng hiện lên từ mặt hồ một lần nữa. Nàng dạy các con cách tìm cây lá trên núi để làm thuốc, cách chữa cho người ốm khỏi bệnh. Từ đó, ba anh em trở thành những thầy thuốc giỏi nhất vùng, ai cũng biết đến các thầy thuốc xứ Myddvai. Và mỗi lần hái lá thuốc bên hồ, họ lại nhìn xuống làn nước, mỉm cười nhớ mẹ.