Ngày xưa có một nhà buôn giàu tới mức lát vàng được cả một con phố. Nhưng ông khéo giữ của, đồng nào bỏ ra cũng sinh lời. Ông mất đi, để cả gia tài lại cho cậu con trai. Cậu con trai thì khác hẳn. Tối nào cậu cũng dự dạ hội, lấy giấy bạc làm diều, ném tiền vàng xuống biển chơi trò ném thia lia. Chẳng bao lâu, cậu chỉ còn đôi dép lê, chiếc áo choàng ngủ cũ và bốn đồng xu. Bạn bè bỏ đi hết. Chỉ một người tốt bụng gửi cho cậu một chiếc rương cũ, kèm lời nhắn: “Gói ghém đi!”
Chẳng còn gì để gói, chàng bèn ngồi luôn vào rương. Vừa ấn vào ổ khóa, chiếc rương vút lên, bay qua ống khói, bay qua những đám mây. Mỗi lần đáy rương kêu răng rắc, chàng lại hú vía. Rồi chàng hạ xuống xứ Thổ Nhĩ Kỳ. Chàng giấu rương dưới đống lá khô trong rừng, đi dép lê vào thành. Ở đây ai cũng mặc áo choàng, đi dép lê y như chàng. Một bà vú bế em bé chỉ cho chàng tòa lâu đài có cửa sổ cao vút: “Công chúa ở đó. Người ta đoán nàng sẽ khổ vì một chàng trai, nên chẳng ai được tới thăm nàng.”
Đêm đó, chàng bay lên mái lâu đài, trèo qua cửa sổ. Công chúa đang ngủ trên trường kỷ, đẹp tới mức chàng không kìm được, khẽ hôn nàng. Nàng giật mình tỉnh dậy. Chàng bảo mình là thần của người Thổ, từ trên trời bay xuống. Chàng khen mắt nàng như hai hồ nước sâu, trong đó những ý nghĩ bơi lội như nàng tiên cá nhỏ. Chàng kể chuyện con cò mang em bé tới. Công chúa thích lắm, nhận lời lấy chàng. “Thứ bảy chàng tới nhé. Cha mẹ em rất thích nghe kể chuyện. Mẹ em thích chuyện sâu sắc, còn cha em thích chuyện vui.”
Thứ bảy, cả triều đình ngồi uống trà chờ chàng. Chàng kể: “Trong một gian bếp, có một bó que diêm rất tự hào về dòng dõi. Chúng kể rằng ông tổ của chúng là cây thông lớn trong rừng, quanh năm xanh tốt. Bây giờ ông làm cột buồm trên con tàu đi khắp thế giới. Còn chúng thì phải ở trong bếp, thắp lửa cho người thường. Cái nồi sắt cạnh đó bảo: Đời tôi thì khác, từ lúc ra đời đã nấu nướng, cọ rửa. Niềm vui của tôi là được lau sạch bóng rồi ngồi chuyện trò với hàng xóm.”
“Thế là cả gian bếp mở tiệc. Cái chổi lấy rau mùi kết vòng nguyệt quế đội lên đầu cái nồi. Cái kẹp gắp than nhảy múa, giơ một chân lên trời, khiến cái nệm ghế cười tới bục cả bụng. Ấm pha trà thì bảo mình bị cảm, không chịu hát. Đúng lúc ấy, cô hầu gái mở cửa bước vào. Cả bọn đứng im phăng phắc. Cô cầm que diêm lên quẹt. Que diêm bùng sáng, nghĩ bụng: Thấy chưa, chúng ta là bậc nhất! Rồi ngọn lửa tắt ngấm.” Hoàng hậu khen: “Chuyện hay quá!” Nhà vua cười vang: “Con sẽ cưới con gái ta!”
Lễ cưới định vào hôm sau. Tối đó cả thành phố thắp đèn rực rỡ. Chàng muốn góp vui, bèn mua thật nhiều pháo hoa, chất vào rương rồi bay lên trời đốt. Pháo nổ đì đùng, bông lửa nở khắp không trung. Người Thổ nhảy cẫng lên, dép lê văng cả qua tai. Ai cũng tin công chúa sắp cưới một vị thần thật. Chàng hạ xuống rừng, vào thành nghe ngóng. Người thì bảo vị thần có mắt sáng như sao, người thì bảo thần khoác áo bằng lửa. Chàng sướng rơn, quay về rừng nghỉ.
Nhưng chiếc rương đâu mất rồi? Một tia lửa pháo hoa còn sót lại đã bén vào rương, đốt nó thành tro. Chàng không bay được nữa, cũng không tới được chỗ cô dâu. Công chúa đứng trên mái lâu đài suốt cả ngày chờ chàng, có lẽ tới giờ nàng vẫn còn chờ. Còn chàng thì lang thang khắp thế gian, đi đâu cũng kể chuyện cổ tích. Nhưng chẳng chuyện nào vui bằng chuyện bó que diêm hôm ấy.