Trong một phòng khách có chiếc tủ gỗ cũ đen bóng, chạm đầy hoa hồng, hoa tulip và những đầu hươu nhỏ. Giữa cánh tủ chạm hình một ông có chân dê, đầu có sừng, râu dài, lúc nào cũng nhe răng cười. Lũ trẻ gọi ông là Ngài Đại-tướng-kiêm-Trung-sĩ-Chân-Dê, cái tên dài tới líu cả lưỡi. Ông cứ nhìn mãi về chiếc bàn dưới tấm gương. Ở đó có cô chăn cừu nhỏ bằng sứ, giày mạ vàng, tay cầm gậy vàng. Đứng ngay cạnh cô là chú bé quét ống khói, cũng bằng sứ, đen như than mà mặt hồng hào. Hai người đã hứa sẽ cưới nhau.
Cạnh hai người là ông lão sứ người Trung Hoa, to gấp ba lần, biết gật đầu. Ông tự nhận là ông nội cô chăn cừu, dù chẳng ai biết có thật không. Ông Chân Dê hỏi cưới cô, ông lão gật đầu ngay. “Cháu sẽ có một người chồng bằng gỗ quý,” ông lão bảo. “Ông ta có cả một tủ đầy đồ bạc.” Cô chăn cừu sợ hãi: “Cháu không muốn vào cái tủ tối om ấy. Nghe nói ông ta đã có mười một bà vợ bằng sứ trong đó rồi.” “Thì cháu là người thứ mười hai,” ông lão nói. “Đêm nay, hễ tủ kêu cót két là làm lễ cưới.” Rồi ông gật gù, ngủ mất.
Cô chăn cừu khóc, nói với chú bé quét ống khói: “Mình cùng đi ra thế giới rộng lớn đi anh. Ở đây không được nữa rồi.” “Em muốn gì anh cũng làm,” chú đáp. Chú bắc chiếc thang nhỏ, chỉ cho cô đặt chân lên những hoa văn chạm trên chân bàn. Hai người xuống được tới sàn. Nhưng cả chiếc tủ đã náo động. Mấy đầu hươu vươn sừng ngó ra, ông Chân Dê nhảy dựng lên, gọi to: “Chúng trốn kìa! Chúng trốn kìa!” Ông lão sứ tỉnh giấc, lắc lư cả người, rồi ngã bịch xuống sàn.
Chú bé quét ống khói hỏi: “Em có đủ can đảm cùng anh đi qua lò sưởi, qua ống khói không? Thế giới rộng lắm, đi rồi không quay về được nữa đâu.” Cô gật đầu: “Em đủ can đảm.” Hai người chui vào lò, qua đường ống tối om như mực. “Mình vào ống khói rồi đấy,” chú nói. “Nhìn kìa, có một ngôi sao trên cao.” Ngôi sao thật đang soi xuống như chỉ đường. Họ leo mãi, leo mãi. Chỗ nào dốc, chú đỡ cô, chỉ cho cô đặt bàn chân sứ bé xíu vào chỗ chắc nhất.
Cuối cùng hai người lên tới miệng ống khói và ngồi xuống nghỉ. Trên đầu là cả bầu trời sao, dưới chân là mái nhà cả thành phố, xa tít tắp là thế giới bao la. Cô chăn cừu tựa đầu vào vai chú bé, khóc tới trôi cả lớp vàng trên dải thắt lưng. “Thế giới to quá, em không chịu nổi,” cô nức nở. “Em chỉ muốn về lại chiếc bàn dưới tấm gương. Em đã theo anh ra tận đây, giờ nếu thương em thì anh đưa em về đi.” Chú bé khuyên mãi không được, đành chiều theo cô.
Hai người lại vất vả leo xuống ống khói, chui qua đường ống, ngồi trong lò lắng nghe. Phòng im phăng phắc, họ hé nhìn ra. Ôi chao, ông lão sứ nằm trên sàn. Ông ngã khỏi bàn lúc đuổi theo, vỡ làm ba mảnh, cái đầu lăn vào góc phòng. “Ông nội em vỡ rồi, đều tại mình cả!” cô chăn cừu xoắn đôi tay bé nhỏ. Chú bé quét ống khói an ủi: “Gắn lại được mà. Gắn lưng, đóng thêm cái đinh tán, ông sẽ lành như mới, lại cằn nhằn chúng mình được như xưa.” Hai người leo lên bàn, đứng lại chỗ cũ.
Gia đình chủ nhà gắn lại lưng cho ông lão sứ, đóng một chiếc đinh tán chắc chắn qua cổ. Ông lành lặn như mới, nhưng không gật đầu được nữa. Ông Chân Dê lại hỏi: “Ngã một cái mà làm cao thế à? Tôi có được cưới cô ấy hay không?” Cô chăn cừu và chú bé quét ống khói lo lắng nhìn ông lão. Nhưng ông lão chẳng gật được, mà cũng ngại phải giải thích với người ngoài rằng mình có đinh tán ở cổ. Thế là hai người sứ nhỏ được ở bên nhau, thầm cảm ơn chiếc đinh tán của ông nội, và thương nhau mãi mãi.