Trời rét căm căm, sao lấp lánh đầy trời, gió im phăng phắc. Đêm giao thừa, chuông nhà thờ vừa điểm mười hai tiếng, khắp thành pháo nổ đì đùng. Nhà nhà nâng cốc chúc nhau: “Chúc mừng năm mới! Vợ đẹp, tiền nhiều, chẳng lo chẳng buồn!” Đúng lúc ấy, tiếng tù và vang lên “tò te, tò te”, một chiếc xe thư lọc cọc chạy tới, dừng trước cổng thành. Trên xe có mười hai hành khách, không còn một chỗ trống. Ai cũng mang hành lý, giấy thông hành, và cả quà cho tôi, cho bạn, cho mọi người trong thành.
“Tên và nghề nghiệp?”, người lính gác hỏi vị khách xuống đầu tiên. Ông mặc áo lông gấu, đi ủng lông, trông oai vệ lắm. “Cứ xem giấy thông hành. Ta là người được bao kẻ trông mong. Ta tung tiền lì xì, mở ba mươi mốt buổi dạ vũ. Ta là thương gia, tên là Tháng Giêng.” Người thứ hai nhảy xuống, vui như tết, ôm theo một thùng gỗ to. “Đến mùa lễ hội, ta sẽ mở thùng này cho cả thành nhảy múa! Tiếc là đời ta ngắn nhất họ, chỉ hai mươi tám ngày, thỉnh thoảng được thêm một ngày. Ta là ông hoàng lễ hội, tên là Tháng Hai!”
Người thứ ba gầy gò, trông như đang nhịn ăn, nhưng mũi hếch thật cao. Ông là thầy đoán thời tiết, trên ve áo cài một bó hoa tím bé tí xíu. Đó là Tháng Ba. Người thứ tư vỗ vai ông: “Này, Tháng Ba, ngửi thấy gì không? Trong trạm gác đang có rượu ngon đấy!” Chẳng có gì cả, anh chàng chỉ muốn trêu một câu, vì anh ta là Tháng Tư, mở màn bằng một trò đùa. “Tôi lúc nắng lúc mưa, lúc cười lúc khóc, tuỳ trời. Quần áo mùa hè tôi để sẵn trong hòm đây, nhưng mặc bây giờ thì dại quá.”
Rồi một cô gái bước xuống, váy màu xanh lá non, tóc cài hoa cỏ chân ngỗng. Người cô thơm mùi cỏ xạ hương đến nỗi người lính gác hắt xì một cái. Cô là Tháng Năm, ca sĩ của rừng xanh, chỉ hát cho riêng mình nghe giữa cây lá. Tiếp theo là một quý cô kiêu sa, xinh đẹp: bà Tháng Sáu, người mở tiệc vào ngày dài nhất năm. Đi cùng là em trai Tháng Bảy, béo tròn, đội mũ rơm, hành lý chỉ có cái quần bơi, vì trời nóng thế, mang nhiều làm chi.
Đến lượt bà mẹ, bà Tháng Tám, buôn trái cây, có cả ao cá và đồng ruộng. Bà béo tốt, lúc nào cũng nóng hừng hực, tự tay mang nước ra đồng cho thợ gặt. Làm xong thì có múa hát và hội mùa trong rừng xanh. Bà đúng là một bà nội trợ giỏi. Sau bà là một hoạ sĩ, bậc thầy của sắc màu, tên là Tháng Chín. Ông muốn rừng đổi màu là rừng phải đổi: đỏ, vàng, nâu, đẹp biết bao. Ông huýt sáo hay như chim sáo đen, hành lý chỉ có một hũ màu trong tay.
Kế đến là một điền chủ, mùa gieo hạt thì lo cày bừa, mê đi săn. Ông Tháng Mười dắt theo con chó, túi đầy hạt dẻ kêu lách tách, hành lý cồng kềnh có cả chiếc cày. Ông nói chuyện nhà nông mà chẳng ai nghe rõ, vì người bên cạnh ho sù sụ. Đó là Tháng Mười Một, bị cảm, cứ phải rút khăn tay ra suốt. Ông làm nghề cưa gỗ, cung cấp củi cho cả làng, tối tối gọt đế giày trượt băng, vì ông biết chẳng mấy tuần nữa, ai cũng sẽ cần đến.
Cuối cùng bước xuống là bà cụ Tháng Chạp, tay xách chiếc ghế sưởi chân. Bà già lắm rồi, nhưng đôi mắt sáng như hai vì sao. Bà ôm một chậu cây thông nhỏ. “Ta sẽ chăm cây này cho thật lớn, đến đêm Giáng sinh nó sẽ cao chạm trần nhà, rực rỡ nến, táo vàng và những hình nhân bé xinh. Ta sẽ đọc truyện cho đám trẻ nghe, và thiên thần bằng sáp trên ngọn cây sẽ dang đôi cánh vàng, bay xuống hôn từng người, kể cả những em bé nghèo đứng hát ngoài đường.”
“Đủ cả mười hai rồi”, người lính gác nói. “Xe đi được rồi, đưa ngựa vào chuồng thôi.” Viên đội trưởng bảo: “Từng người một vào đây. Giấy thông hành ta giữ lại. Mỗi tờ có hạn một tháng, hết tháng ta sẽ ghi lại người ấy cư xử ra sao. Mời ông Tháng Giêng vào trước.” Và ông Tháng Giêng bước lên. Khi tròn một năm, có lẽ tôi sẽ kể cho các bạn nghe mười hai vị khách ấy đã mang đến cho chúng ta những gì. Còn bây giờ thì tôi chưa biết, và chắc chính họ cũng chưa biết đâu.