Trên một con phố toàn nhà mới tinh, có một ngôi nhà đã gần ba trăm năm tuổi. Trên xà nhà khắc năm xây, quấn quanh là hoa tulip và dây hoa bia. Dưới mái có những khuôn mặt chạm khắc nhăn nhó, máng nước có đầu rồng, nhưng nước lại chảy ra từ bụng rồng vì máng bị thủng. Mấy ngôi nhà mới chê nó là đống đồ cũ làm xấu cả phố. Riêng cậu bé ở bên kia đường thì rất thích ngôi nhà ấy. Cậu ngồi bên cửa sổ, tưởng tượng phố xưa có lính cầm giáo dài đi tuần, có mái nhọn và máng rồng như thế này.
Trong ngôi nhà cổ có một ông cụ mặc quần ống túm, áo khoác cúc đồng to và đội tóc giả. Sáng nào cũng có một ông lão giúp việc đến dọn dẹp, ngoài ra ông cụ ở một mình. Thỉnh thoảng ông ra cửa sổ, cậu bé gật đầu chào, ông gật đầu chào lại, thế là thành bạn dù chưa nói với nhau câu nào. Một hôm, cậu nghe bố mẹ bảo ông cụ bên kia đường giàu có nhưng cô đơn lắm. Chủ nhật sau, cậu gói một thứ vào giấy, mang sang: “Cháu có hai chú lính chì, cháu tặng ông một chú, vì cháu biết ông cô đơn lắm.”
Ít lâu sau, ông cụ mời cậu sang chơi. Những núm đồng trên lan can sáng bóng như vừa được đánh, những chú lính thổi kèn chạm trên cửa như phồng má thổi vang: “Tò te tò, cậu bé đến rồi!” Trong sảnh treo chân dung hiệp sĩ mặc giáp và các bà mặc áo lụa, giáp kêu loảng xoảng, lụa sột soạt. Ngoài ban công, cỏ cây mọc tràn như một khu vườn. Trong phòng, tường bọc da dập hoa vàng ngân nga: “Vàng dát rồi cũng phai, chỉ da là bền mãi.” Những chiếc ghế lưng cao kẽo kẹt: “Ngồi đi, ngồi đi, ôi cái lưng của tôi!”
“Cảm ơn cháu về chú lính chì, và cảm ơn cháu đã sang thăm ông,” ông cụ nói. Trên tường treo chân dung một thiếu nữ trẻ đẹp, tóc rắc phấn, váy xòe kiểu xưa. Bên dưới, trong khung kính, là một bó hoa đã khô. “Ông có bức tranh này ở đâu ạ?” “Ở cửa hàng bên kia. Ông quen cô ấy từ rất lâu rồi, đã gần nửa trăm năm cô ấy không còn nữa.” “Ở nhà cháu bảo ông cô đơn lắm.” Ông cụ mỉm cười: “Những kỷ niệm đẹp vẫn ghé thăm ông. Giờ lại có cháu sang chơi nữa, vui lắm chứ.” Rồi ông mang ra một cuốn sách đầy tranh đoàn rước ngày xưa, cùng táo, hạt dẻ và mứt ngọt.
Chú lính chì đứng trên giá thì thầm với cậu bé: “Ở đây buồn quá, tôi không chịu nổi. Ngày đã dài, tối còn dài hơn. Ở nhà cậu, bố mẹ cậu trò chuyện vui vẻ, các bạn nhỏ chơi đùa ồn ã. Tôi nhớ những sáng chủ nhật cả nhà đứng hát quanh bàn, bé Maria chưa đầy hai tuổi cứ nghe nhạc là nhún nhảy, lệch nhịp mà ai cũng phải cố nhịn cười.” “Chú đã được tặng rồi, chú phải ở lại chứ,” cậu bé nói. Lần sau cậu sang chơi, chú lính chì kêu to: “Tôi muốn ra trận!” rồi lao mình xuống sàn. Ông cụ và cậu bé tìm mãi chẳng thấy. Chú đã lọt qua một khe ván sàn.
Ngày qua, tuần qua. Mùa đông đến, cửa kính đóng băng, cậu bé phải hà hơi lau một lỗ nhỏ để nhìn sang ngôi nhà cổ. Tuyết phủ kín bậc thềm, như chẳng có ai ở nhà. Mà thật thế, ông cụ đã ra đi mãi mãi. Một buổi chiều, người ta đến đưa ông về quê, về nơi yên nghỉ của ông. Chẳng ai đi theo, vì bạn bè của ông đều đã đi xa từ lâu. Cậu bé đứng bên cửa sổ, gửi một nụ hôn gió theo ông. Ít hôm sau, đồ đạc trong nhà bị đem bán. Bức chân dung thiếu nữ lại về cửa hàng cũ. Mùa xuân năm sau, người ta dỡ ngôi nhà cổ đi.
Nhiều năm sau, chỗ ngôi nhà cổ là một khu vườn nhỏ trước một ngôi nhà mới. Cậu bé ngày nào giờ đã là một người đàn ông tốt, vừa cưới vợ và dọn về đây ở. Một hôm, cô vợ trẻ tự tay trồng một bông hoa dại thì bị vật gì chích vào tay. Từ đất mềm nhô lên một chú lính chì. Cô lau chú bằng chiếc lá xanh, rồi bằng chiếc khăn tay thơm ngát. Người chồng nhìn, mỉm cười, rồi kể cho vợ nghe chuyện ngôi nhà cổ và ông cụ cô đơn. Cô vợ rưng rưng: “Em sẽ giữ chú lính này và nhớ mãi chuyện anh kể.” Chú lính chì thầm nghĩ: “Được người ta nhớ đến, thật là hạnh phúc.”