Ở một góc phố lát đá, có một ngọn đèn đường đã già. Bao nhiêu năm nó soi sáng cho người qua lại, và đêm nay là đêm cuối cùng nó được đứng trên cột. Sáng mai, các ông trong hội đồng thành phố sẽ đến xem nên để nó đi đâu: đưa ra soi một cây cầu ngoại ô, hay mang đi nấu chảy thành một thứ khác. Ngọn đèn lo lắm, nhưng điều nó buồn nhất là phải xa ông gác đêm và bà vợ. Hồi họ mới cưới nhau, ông bắt đầu đi tuần, cũng là lúc ngọn đèn bắt đầu tỏa sáng. Họ đã cùng nhau già đi.
Đêm ấy, ngọn đèn nhớ lại bao chuyện cũ. Nó nhớ chàng trai trẻ dừng dưới chân cột, đọc đi đọc lại lá thư của người yêu, đôi mắt sáng rỡ. Nó nhớ cả những buổi tối lặng lẽ, có người đứng tựa vào cột mà khóc thương một người thân đã đi xa. Có biết bao điều ngọn đèn đã nhìn thấy, mà chẳng ai biết đến. Một cái đầu cá trích, một mẩu gỗ mục và một con đom đóm bay tới, con nào cũng muốn ngọn đèn chọn mình thay chỗ. Ngọn đèn hiền lành đáp: “Các bạn sáng chưa đủ để soi cả con phố đâu.”
Gió thổi qua góc phố, luồn vào trong chụp đèn. “Đêm nay là đêm cuối của bạn phải không? Tôi sẽ tặng bạn một món quà. Tôi thổi vào trí nhớ của bạn cho thật trong trẻo, để bạn nhớ rõ từng điều mình đã thấy, đã nghe.” Ngọn đèn cảm ơn gió. Mặt trăng thì đang khuyết dần, bảo: “Ta chẳng có gì cho đâu, đèn có bao giờ soi sáng cho ta.” Một giọt mưa từ đám mây xám rơi xuống, hỏi có muốn bị gỉ cho mau tan rã không. Ngọn đèn và gió đều lắc đầu, món quà ấy chẳng hay chút nào.
Bỗng một ngôi sao băng vạch một đường sáng trên trời, rơi đúng vào ngọn đèn. Ngọn đèn rùng mình vì vui sướng. Nó tin rằng các vì sao đã tặng nó một món quà quý: những gì nó nhớ và nhìn thấy, người mà nó thương cũng sẽ nhìn thấy được, như những bức tranh hiện ra trước mắt. Gió thì thầm: “Quà tuyệt lắm, nhưng muốn thế thì trong bạn phải thắp một ngọn nến sáp. Các vì sao quên mất điều ấy rồi.” Ngọn đèn vẫn mỉm cười, nó thấy mình được các vì sao ghi nhớ, thế là đủ vui.
Sáng hôm sau, ngọn đèn được tháo xuống. Ông gác đêm đến trước hội đồng thành phố, cúi đầu xin: “Tôi đã đi tuần bao nhiêu năm, xin các ông cho tôi giữ ngọn đèn cũ này, coi như phần thưởng.” Các ông trong hội đồng phì cười, nhưng rồi cũng gật đầu cho. Thế là ngọn đèn được ông ôm về nhà. Nhà ông ở dưới một căn hầm nhỏ, ấm áp và sạch sẽ, có bếp lò, có ghế bành, có chậu hoa bên khung cửa. Ông đặt ngọn đèn lên chiếc ghế bành cạnh lò sưởi, như đón một đứa con về nhà.
Từ đó, ngọn đèn sống cùng hai ông bà. Bà lau chùi nó sáng bóng, châm dầu cho nó đầy đặn, chưa bao giờ để nó thiếu một giọt. Tối chủ nhật, ông đọc sách về những miền đất xa xôi, có rừng rậm, có sông lớn, có voi đi thành đàn. Bà vừa đan len vừa nghe, mắt mơ màng. Ngọn đèn thầm ước: “Giá có một mẩu nến sáp thắp trong mình, ta sẽ cho bà thấy rõ từng bức tranh ấy.” Ông có mang về vài mẩu nến thừa, nhưng chẳng ai nghĩ đến việc thắp vào đèn, ông bà vẫn chỉ châm dầu như cũ.
Một đêm, ngọn đèn nằm mơ. Nó mơ mình được nấu chảy, đúc thành một cây chân nến hình thiên thần, đặt trên bàn viết của một nhà thơ. Ngọn nến trong tay thiên thần thắp lên, và mọi điều nhà thơ viết hiện ra sống động như thật. Tỉnh dậy, ngọn đèn nhìn hai ông bà đang ngủ yên. Nó nghĩ: “Không, chừng nào ông bà còn ở đây, ta chẳng muốn đi đâu cả. Ông bà thương ta vì ta là ta.” Từ đó, ngọn đèn đường cũ sống những ngày bình yên, ấm áp bên căn hầm nhỏ, cạnh những người thương mình nhất.