Ngày xưa, ở một nơi nào đó mà chẳng ai nhớ rõ, có ông vua có hai cánh đồng cải dầu rất đẹp. Nhưng đêm nào cũng có hai đống rơm bị đốt cháy. Vua giận lắm, sai lính rình mà chẳng thấy ai. Vua treo thưởng chín trăm đồng cho ai bắt được kẻ phá, và ra lệnh trị tội thật nặng những ai canh không cẩn thận. Đã có biết bao người bị phạt mà đồng vẫn cháy. Rồi một cậu bé chăn lợn tới, dắt theo hai con chó tên là Suỵt và Im. Cậu xin canh đồng. Tối đến, cậu trèo lên đống rơm thứ tư. Khoảng mười một giờ đêm, cậu thấy một bóng người lại gần châm lửa. Cậu hô: “Suỵt, Im, bắt lấy!” Hai con chó lao đi, chỉ năm phút sau đã bắt được hắn.
Sáng ra, kẻ bị bắt được trói đưa lên vua. Cậu bé chăn lợn được thưởng ngay một nghìn đồng. Kẻ ấy lông lá khắp người, trông như một con thú. Vua lấy làm lạ, nhốt hắn trong một căn phòng chắc chắn, rồi gửi thư mời vua chúa khắp nơi tới xem. Nhà vua có cậu con trai mười tuổi. Cậu tới xem người rừng, và người rừng van nài cậu thả ra. Cậu bé thương tình, lén lấy chìa khóa của mẹ, mở cửa, rồi đem chìa trả lại chỗ cũ. Người rừng lông lá trốn mất vào thế gian.
Vua chúa các nước lần lượt tới, ai cũng háo hức xem người rừng, nhưng hắn đã biến mất! Nhà vua vừa giận vừa xấu hổ, tra hỏi hoàng hậu, dọa phạt bà thật nặng. Hoàng hậu thưa bà không biết gì. Người ta gọi cậu hoàng tử tới hỏi, và cậu nhận chính mình đã thả người rừng. Nhà vua nổi trận lôi đình, ra lệnh cho người hầu đưa cậu vào rừng sâu, không bao giờ được trở về. Cả cung điện buồn rầu, vì ai cũng thương cậu bé. Người hầu dắt cậu vào rừng, thương cậu quá, chỉ để cậu lại đó rồi về tâu là đã làm xong việc. Nhà vua cũng chẳng hỏi thêm.
Hoàng tử sống lang thang trong rừng suốt năm năm. Một hôm, cậu gặp một túp lều nhỏ có ông lão. Hai người trò chuyện, cậu kể chuyện đời mình, và họ nhận ra nhau: ông lão chính là người rừng lông lá năm xưa. Hoàng tử ở với ông thêm hai năm. Rồi chàng muốn đi xa hơn. Ông lão giữ mãi không được, bèn tặng chàng một quả táo vàng, từ đó bước ra một con ngựa bờm vàng, kèm cây gậy vàng để điều khiển nó. Ông tặng thêm quả táo bạc chứa những kỵ binh oai phong cùng cây gậy bạc, và quả táo đồng chứa bao nhiêu bộ binh cũng có, cùng cây gậy đồng. Ông bắt chàng thề giữ gìn chúng thật cẩn thận rồi mới cho đi.
Chàng đi mãi, tới một thành lớn, xin vào làm người hầu trong cung vua, sống lặng lẽ chẳng ai để ý. Một hôm, có tin giặc kéo đến. Nhà vua sợ lắm vì quân ít, nhưng vẫn phải ra trận. Mọi người đi rồi, chàng xin bà quản gia cho ra làng bên trả món nợ nhỏ. Ra khỏi thành, chàng lấy quả táo vàng, nhảy lên ngựa bờm vàng, rồi lấy quả táo bạc, quả táo đồng, dẫn cả đoàn quân tới chỗ nhà vua. Vua thấy đoàn quân lạ thì hoảng, nhưng chàng cúi chào: “Thần mang quân tới giúp bệ hạ.” Các công chúa cũng có mặt. Nàng út, xinh nhất, tặng chàng chiếc nhẫn, còn người chị xé đôi chiếc khăn tay trao chàng một nửa.
Quân giặc kéo tới. Chàng xin đi trước, dẫn đoàn kỵ binh xông lên dũng mãnh tới nỗi giặc tan tác cả, chỉ còn hai người được tha để về báo tin. Nhà vua và các công chúa mừng rỡ, mời chàng lên xe về cùng, nhưng chàng từ chối, phi ngựa đi mất. Gần tới thành, chàng cất ngựa và quân vào quả táo, rồi thong thả đi bộ về cung, bị bà quản gia mắng một trận vì đi lâu quá. Nhưng nàng công chúa út đã đem lòng thương chàng, và chàng cũng thương nàng. Chẳng có ngọc ngà gì, chàng tặng nàng quả táo đồng và cây gậy đồng.
Một hôm, nàng út hỏi vua cha: “Hay người giúp cha chính là anh hầu trong cung?” Vua gắt lên, nhưng để chiều con, vẫn cho lục phòng người hầu. Ai cũng sững sờ khi thấy ở đó chiếc nhẫn vàng và nửa chiếc khăn tay. Vua cho gọi chàng tới: “Có phải ngươi đã cứu ta?” “Tâu bệ hạ, chính là thần.” “Thế quân của ngươi ở đâu?” “Nếu bệ hạ muốn, thần xin cho xem ngoài thành.” Chàng xin lại quả táo đồng từ tay nàng út. Ra ngoài thành, quân đứng kín cả cánh đồng, chật tới mức không còn chỗ chen chân.
Nhà vua gả nàng công chúa út cho chàng và trao cả vương quốc để đền ơn. Khi biết chàng cũng là con một ông vua, vua mừng khôn xiết. Chàng cất hết quân lính vào lại quả táo, rồi mọi người cùng về thành. Ít lâu sau, một đám cưới linh đình diễn ra, đàn hát tưng bừng mấy ngày liền. Cậu bé năm xưa vì thương người mà phải rời nhà, nay nhờ chính tấm lòng ấy mà được đền đáp. Còn bây giờ họ có còn sống vui ở đó không, thì chẳng ai biết chắc.