Ngày xưa, ở một làng quê dưới chân núi, có chàng trai mồ côi tên là Ngưu Lang. Chàng nghèo lắm, gia tài chỉ có một con trâu già. Sáng nào Ngưu Lang cũng dắt trâu ra đồng, chiều về lại tắm cho trâu bên suối, kể cho trâu nghe đủ chuyện vui buồn. Chàng đâu biết rằng con trâu già ấy vốn là một vì sao trên trời, vì phạm lỗi nhỏ mà phải xuống trần gian. Một tối, trâu bỗng cất tiếng nói: “Ngưu Lang ơi, chàng hiền lành, chăm chỉ, ta muốn giúp chàng có một mái ấm.”
Trên thiên đình, có nàng tiên tên là Chức Nữ, cháu gái của Vương Mẫu. Đôi tay nàng khéo léo vô cùng: nàng dệt nên những tấm mây ngũ sắc, những dải ráng hồng buổi sớm và ráng đỏ lúc hoàng hôn. Nhưng ngày nào cũng chỉ ngồi bên khung cửi, Chức Nữ thấy buồn. Nàng hay nhìn xuống trần gian, nơi có đồng lúa xanh, có tiếng sáo trâu và những mái nhà ấm khói bếp. Một hôm, nàng cùng các chị tiên lén bay xuống hồ nước trong vắt dưới chân núi để tắm và vui đùa.
Trâu già bảo Ngưu Lang ra hồ. Chàng nấp sau bụi lau, thấy các nàng tiên đang cười đùa dưới nước, áo tiên vắt trên cành liễu. Theo lời trâu dặn, chàng cầm lấy tấm áo màu hồng nhạt. Khi các chị tiên mặc áo bay về trời cả, chỉ còn Chức Nữ bối rối đứng lại tìm áo. Ngưu Lang bước ra, cúi đầu trả áo và nói thật lòng mình. Chức Nữ nhìn chàng trai chất phác, nhớ lại bao lần ngắm làng quê từ trên cao, rồi khẽ gật đầu: “Thiếp xin ở lại cùng chàng.”
Từ đó, chàng cày ruộng, nàng dệt vải. Vải Chức Nữ dệt mịn như mây, đẹp như ráng chiều, cả vùng ai cũng khen. Ít năm sau, hai vợ chồng có một con trai và một con gái kháu khỉnh. Căn nhà tranh nhỏ lúc nào cũng rộn tiếng cười. Rồi trâu già yếu dần. Một tối, trâu gọi Ngưu Lang lại gần: “Ta sắp phải trở về trời. Ta để lại cho chàng tấm áo choàng da của ta. Khi nào gặp chuyện khó khăn, hãy khoác nó lên, chàng sẽ bay được.” Sáng hôm sau, chuồng trâu chỉ còn lại tấm áo choàng gấp gọn.
Trên thiên đình, Vương Mẫu biết chuyện thì nổi giận. Không còn Chức Nữ, trời chẳng còn ai dệt mây ngũ sắc. Bà sai thiên binh xuống đưa nàng về. Một buổi chiều, gió nổi ầm ầm, mây đen kéo tới, Chức Nữ bị đưa bay lên cao. Hai đứa trẻ khóc gọi mẹ. Ngưu Lang vội khoác tấm áo choàng của trâu già, đặt hai con vào hai chiếc thúng, gánh trên vai mà bay theo. Chàng bay mãi, bay mãi, thấy bóng vợ ngay phía trước.
Vừa lúc Ngưu Lang sắp đuổi kịp, Vương Mẫu rút cây trâm vàng trên tóc, vạch một đường dài giữa trời. Lập tức, một dòng sông sao lấp lánh hiện ra, rộng mênh mông, sóng bạc cuồn cuộn. Đó chính là sông Ngân Hà. Ngưu Lang đứng bên này, Chức Nữ ở bên kia, chỉ nhìn thấy nhau mà không sao qua được. Hai vợ chồng khóc mãi, nước mắt rơi như mưa. Ngưu Lang lấy gáo múc nước sông, mong tát cạn Ngân Hà, các con cũng lấy gáo nhỏ giúp cha.
Thấy cả nhà thương nhau quá đỗi, Vương Mẫu cũng mủi lòng. Bà cho phép mỗi năm một lần, vào đêm mồng bảy tháng bảy, vợ chồng con cái được gặp nhau. Nhưng sông rộng thế, làm sao mà qua? Bầy quạ và chim khách khắp nơi nghe chuyện, rủ nhau bay lên trời, cánh nối cánh, kết thành một chiếc cầu dài vắt ngang Ngân Hà. Người ta gọi đó là cầu Ô Thước. Đêm ấy, Ngưu Lang dắt hai con bước lên cầu, Chức Nữ chạy tới, cả nhà ôm nhau giữa trời sao.
Gặp nhau được ít lâu, trời gần sáng lại phải chia tay. Nước mắt vui mừng lúc gặp, nước mắt bịn rịn lúc xa, rơi xuống trần gian thành những cơn mưa rả rích. Bởi thế, cứ đến tháng bảy âm lịch, trời lại có mưa ngâu. Còn bầy quạ, chim khách, sau mùa ấy, lông đầu cứ thưa đi, vì đã để cả nhà Ngưu Lang bước qua. Đêm thu trời trong, các bạn thử nhìn lên: hai bên dòng Ngân Hà có hai ngôi sao sáng nhìn nhau, đó là Ngưu Lang và Chức Nữ, vẫn đợi ngày gặp lại.