Một đêm giá buốt giữa lễ Giáng sinh và năm mới, có một bác nông dân đi bộ sang làng bên. Đường chẳng xa, nhưng tuyết dày đến nỗi chẳng còn thấy đường, tường hay hàng rào nào nữa. Bác lạc lối, đành nép sau một bụi bách xù rậm, định ngủ qua đêm chờ trời sáng. Bác co chân như con nhím, cuộn mình trong áo da cừu, rồi ngủ thiếp đi. Chẳng biết bao lâu sau, có người khẽ lay bác: “Bác ơi, dậy đi! Nằm đây nữa thì tuyết vùi mất, chẳng ai tìm thấy đâu.” Trước mặt bác là một người cao gầy, tay cầm một cây thông non cao hơn cả người.
“Đi theo tôi, gần đây có đống lửa lớn, bác nghỉ ở đó ấm hơn.” Người lạ vung cây gậy, tuyết rẽ ra hai bên thành lối đi. Chẳng mấy chốc họ tới một khu rừng có ánh lửa hồng. “Bác tên gì?” “Tôi là Hans, con của Hans Cao.” Quanh đống lửa có ba người mặc áo trắng như đang mùa hè. Trong một vòng rộng chừng mười bước chân, mùa đông biến mất: rêu khô ráo, cây cỏ xanh tươi, ong và bọ cánh cứng bay vo ve. Vậy mà bên ngoài vẫn nghe gió rít và cành cây gãy vì tuyết. Hans uống một bát nước nóng, gối đầu lên áo da cừu, nghe họ nói một thứ tiếng lạ, rồi lại ngủ thiếp đi.
Tỉnh dậy, rừng và lửa đều biến mất. Bỗng một tiếng ầm vang lên, đất rung dưới chân. Hans lần theo tiếng động, tới cửa một hang đá rực lửa. Bên trong là một lò rèn khổng lồ, đông nghịt thợ đang thổi bễ, quai búa, mỗi cái đe có bảy người. Khắp thế gian chẳng đâu có những người thợ rèn ngộ nghĩnh thế: đầu to hơn cả thân, búa to gấp đôi người, vậy mà đập khoẻ hơn cả những người khoẻ nhất trên đời. Trên chiếc ghế cao sát vách, người cầm gậy thông hôm qua ngồi trông thợ, giờ mặc áo chẽn đen, thỉnh thoảng giơ gậy ra hiệu, vì ồn quá chẳng ai nghe được tiếng nói.
Hết giờ làm, thợ ném búa xuống, kéo nhau ra ngoài. Người chủ bước xuống, mời Hans làm khách, rồi mở một cánh cửa trong hang. Ôi, vàng thỏi bạc thỏi chất đầy sàn, sáng loá cả mắt! Hans đếm cho vui, tới năm trăm bảy mươi thì chủ nhà cười: “Đếm làm gì cho mệt, bác cứ chọn vài thỏi, tôi tặng.” Hans cúi xuống nhấc một thỏi vàng, nhưng dùng hết sức hai tay cũng không nhích nổi. Họ đi qua những gian khác, có gian rộng hơn cả nhà thờ, đầy vàng bạc. Hans hỏi: “Sao ông cất của cải ở đây, chẳng ai được nhờ? Đem lên mặt đất thì ai cũng giàu, chẳng ai phải làm lụng hay đói khổ nữa.” Chủ nhà đáp: “Chính vì thế mà tôi phải giữ nó. Nếu người ta không phải tự làm ra miếng ăn, cả thế gian sẽ lười biếng. Tôi không phải người. Tôi cùng các thợ được giao chăm lo thế gian, chuẩn bị vàng bạc dưới lòng đất, mỗi năm chỉ đưa lên một ít, trộn vào đất cát. Ai chịu khó tìm, hay gặp may, mới thấy được.”
Lát sau chủ nhà trở lại, khác hẳn: áo lụa màu lửa viền tua vàng, thắt lưng vàng, đầu đội vương miện vàng nạm ngọc lấp lánh như sao đêm đông, tay cầm gậy vàng. Ông dẫn Hans vào phòng ăn: bàn ghế bằng bạc, bát đĩa bằng vàng. Một tá người hầu tí hon chạy tới phục vụ, nhanh như có cánh. Thấp quá không với tới bàn, chúng phải nhảy phốc lên mặt bàn mới lấy được món ăn. Chủ nhà kể: “Dịp cuối năm, tôi hay đi dạo trên mặt đất xem người ta sống ra sao. Phần đông chỉ cãi nhau, trách lỗi người khác, chẳng ai nghĩ đến lỗi mình.” Hans muốn cãi mà chẳng biết nói gì, ngồi im, rồi ngủ quên trên ghế.
Hans mơ thấy mình khoẻ lạ thường, vác hai thỏi vàng một lúc, vác mãi đến kiệt sức. Rồi bác nghe tiếng thợ rèn hát, thấy cả tia lửa bay. Bác vươn vai tỉnh dậy, thì thấy mình đang nằm trong rừng xanh, nắng hè chiếu rực rỡ. Bác ngẩn ngơ chẳng hiểu sao mùa đông đã thành mùa hè. Bên cạnh có dấu một đống lửa đã tàn. Lại gần, bác thấy tro hoá ra là bụi bạc mịn, còn mấy que củi cháy dở là vàng ròng. Hans cởi áo da cừu, gom hết tro bạc vào, xếp que vàng lên trên, buộc chặt bằng thắt lưng, rồi tìm chỗ giấu kỹ. Thế là Hans bỗng giàu có. Bác dọn tới một vùng xa, mua được ruộng vườn, cưới một cô gái xinh xắn, có con có cháu. Khi về già, bác kể cho con cháu nghe về chúa tể lòng đất đã cho bác giàu có thế nào.