Về kệ Thế giới

Chàng tiều phu và nàng tiên núi

Khoảng 6 phút · 8 cảnh

Bác tiều phu Keel Wee lên núi đốn củi, mải mê xem hai vị tiên tóc dài đánh cờ đến quên cả thời gian. Khi cán rìu mục thành bụi, bác xuống núi thì làng xưa đã đổi khác cả năm trăm năm. Truyện dân gian Hàn Quốc về một ván cờ tiên, kể nhẹ nhàng cho cả nhà.

Cốt truyện theo: Truyện dân gian Hàn Quốc (Griffis, 1922)

Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nhỏ miền bắc xứ Triều Tiên, có bác tiều phu tên là Keel Wee. Bác có một con bò đực to lớn mà hiền khô. Bò chở củi cao ngất, chỉ thấy bốn cái chân thò ra dưới đống củi. Cứ năm ngày một phiên chợ, hai bác cháu lại xuống phố bán củi. Lũ trẻ trong làng quý con bò lắm, leo trèo, đùa nghịch với nó như với một chú chó con.

Một buổi sáng mùa hè đẹp trời, bác để bò ở nhà, vác rìu lên núi đốn củi. Bác gái đứng ở cổng gọi với theo: “Nhớ về sớm ăn tối nhé! Thằng cả đi câu, thế nào chẳng có một xâu cá ngon.” Bác cười, vâng dạ, rồi men theo đường núi đi mãi, đi mãi. Gần làng chẳng còn mấy cây to, nên năm nào người tiều phu cũng phải đi xa hơn năm trước.

Đến một khoảng rừng trống, bác vừa định cởi nón bắt tay vào việc thì thấy đằng xa có hai người lạ. Hai vị tiên tóc dài, áo xống kiểu xưa, gương mặt hiền và sáng, đang ngồi trên phiến đá đánh cờ vây. Bác rón rén lại gần, đứng nghiêm trang xem. Hai vị tiên chớp mắt như mời bác cứ xem. Bác chống cằm lên cán rìu, mắt dán vào bàn cờ, càng xem càng say. Mải quá, bác quên cả phép lịch sự, thò tay định đi hộ một quân. Lập tức vị tiên gần nhất khẽ gõ vào ngón tay bác, rồi lấy ra một viên nhỏ như hạt hồng, đặt vào miệng bác.

Từ lúc ấy, bác không nói được nữa. Ba người cứ thế lặng im, chỉ có tiếng quân cờ lách cách. Bác xem mãi, xem mãi, không biết đói, không biết mỏi, chẳng để ý mặt trời lặn hay sao mọc. Bác đâu biết rằng ở chốn tiên không có ngày, không có đêm, thời gian trôi đi mà chẳng ai đếm. Bỗng cán rìu dưới cằm bác vụn ra như bụi. Bác ngã chúi về phía trước, làm đổ cả bàn cờ, quân cờ văng tung tóe. Bác vội ngồi dậy, định cúi đầu xin lỗi, thì hai vị tiên đã biến mất. Chỉ hai phiến đá họ ngồi là vẫn còn hơi ấm.

Bác đưa tay sờ cằm. Sáng nay vừa cạo râu nhẵn nhụi, giờ đã có một bộ râu dài bạc trắng. Lưỡi rìu sắt hoen gỉ, nằm vùi nửa trong đất. Chiếc nón to của bác chỉ còn vài nan tre mủn nát. Áo quần rách bươm, dép gai không còn, móng tay móng chân dài ra như móng chim. Tóc bác xổ tung, xám bạc, xõa dài sau lưng. Khớp xương cứng đờ, bác thấy mình đã thành một ông lão.

Bác lom khom xuống núi. Núi sông vẫn thế, nhưng làng thì lạ hoắc. Đâu rồi những mái tranh quen thuộc? Giờ có những hàng cột cao nối nhau bằng dây sắt dài tít tắp. Bác tò mò ghé lại một ngôi nhà gỗ, cộc một cái, mũi đập vào một thứ cứng mà trong suốt. Người bên trong gọi ra: “Ông ơi, đừng đụng vào tấm kính!” Rồi một ngôi nhà có bánh xe chạy rầm rầm trên hai đường sắt, chẳng ngựa kéo, chẳng người đẩy. Lũ trẻ chỉ trỏ cười khúc khích, gọi bác là ông già trên núi. Bác muốn hỏi mà vẫn không nói được.

Thấy một ông quan văn mặc áo trắng, đội mũ đen rộng vành đi tới, bác cúi rạp đầu chào. Đúng lúc ấy, viên nhỏ tiên cho rơi khỏi miệng. Bác lại nói được: “Thưa ngài, ngài có biết nhà của vợ con tôi ở đâu? Tôi là Keel Wee, tiều phu làng này.” Ông quan nhìn bác hồi lâu rồi kêu lên: “Trời ơi! Giọng ông là giọng người làng này năm trăm năm trước! Ngày ấy có một bác tiều phu lên núi rồi không bao giờ trở về. Con cháu nhà ấy đã nối nhau mười mấy đời rồi.” Rồi ông kể cho bác nghe năm trăm năm qua có bao nhiêu đời vua, bao nhiêu đổi thay. Bác lặng người đi.

Bác lần ra quả đồi nơi dòng họ mình yên nghỉ, tìm đến chỗ người vợ hiền và đàn con thơ năm nào. Bác ngồi đó rất lâu, nhớ bữa tối có xâu cá ngon mà bác đã hứa về ăn. Sáng hôm sau, người làng chẳng còn thấy ông lão râu bạc đâu nữa. Chỉ thấy quanh quả đồi nở lên những bông hoa lạ, loài hoa xưa nay chỉ mọc trên núi cao, nơi các vị tiên ngồi đánh cờ.