Về kệ Thế giới

Túp lều trong rừng

Khoảng 6 phút · 7 cảnh

Ba cô con gái bác tiều phu lần lượt lạc vào túp lều của một ông lão râu bạc sống cùng con gà mái, con gà trống và cô bò lang. Chỉ cô út biết nghĩ đến bầy vật nuôi trước khi ngồi vào bàn ăn, và lòng tốt ấy đã phá tan một lời phù phép. Truyện cổ Grimm về tấm lòng thương người thương vật, kể nhẹ nhàng cho cả nhà.

Cốt truyện theo: Truyện cổ Grimm (1857)

Ngày xưa, ở bìa một khu rừng vắng, có bác tiều phu nghèo sống với vợ và ba cô con gái. Một sáng, bác dặn vợ: "Trưa nay cho con cả mang cơm vào rừng cho tôi nhé. Tôi sẽ rắc hạt kê dọc đường để con khỏi lạc." Nhưng đến trưa, lũ chim sẻ, chim sơn ca, chim sáo đã nhặt sạch hạt kê. Cô chị cả bưng bát canh đi mãi, đi mãi, đến khi mặt trời lặn mà vẫn chẳng tìm ra cha. Rừng tối dần, cú kêu văng vẳng. Bỗng cô thấy một đốm sáng le lói giữa hàng cây.

Đốm sáng ấy là một túp lều nhỏ. Cô gõ cửa bước vào, thấy một ông lão tóc bạc ngồi chống cằm bên bàn, chòm râu trắng dài gần chấm đất. Cạnh bếp lò có một con gà mái, một con gà trống và một cô bò lông lang. Cô xin ngủ nhờ. Ông lão hỏi bầy vật: "Gà mái xinh, gà trống xinh, cô bò lang xinh, các con nghĩ sao?" Cả ba đáp: "Đúc!" Ông lão bảo cô xuống bếp nấu bữa tối. Cô nấu xong, ngồi ăn no nê với ông lão, mà chẳng nghĩ gì đến mấy con vật đói.

Ăn xong, cô hỏi: "Giường ngủ ở đâu ạ?" Ba con vật đồng thanh: "Cô ăn với ông, cô uống với ông, mà chẳng nghĩ gì cho chúng tôi. Vậy tự cô đi tìm chỗ ngủ đi." Ông lão bảo cô lên gác trải chăn cho hai chiếc giường. Cô trải xong, lăn ra ngủ luôn, chẳng đợi ông. Lát sau ông lão cầm nến lên, nhìn cô, lắc đầu, rồi mở cửa sập, để cô xuống căn hầm dưới sàn. Hôm sau, cô chị thứ hai mang cơm cho cha, theo dấu hạt đậu lăng, nhưng chim rừng lại nhặt hết. Cô cũng lạc vào túp lều, cũng chỉ lo ăn cho mình, và cũng phải xuống căn hầm như chị.

Sáng thứ ba, bác tiều phu nói: "Hôm nay cho con út mang cơm. Con bé ngoan, biết giữ đường đi." Bà mẹ lo lắm: "Mất hai đứa rồi, lại mất cả đứa út sao?" Bác bảo đừng lo, lần này bác rắc hạt đậu Hà Lan to hơn. Nhưng lũ bồ câu rừng đã ăn sạch. Cô út lạc đường, lòng buồn rười rượi, chỉ nghĩ thương cha đang đói, thương mẹ ở nhà đang mong. Trời tối, cô cũng tìm đến túp lều, lễ phép xin ông lão cho ngủ nhờ.

Bầy vật lại đáp "Đúc!". Cô út đến bên bếp lò, vuốt bộ lông mượt của gà mái, gà trống, gãi nhẹ giữa hai sừng cô bò lang. Nấu xong nồi canh, cô nói: "Chẳng lẽ cháu ăn no mà các con vật hiền lành này nhịn đói? Ngoài kia còn nhiều thức ăn, cháu lo cho chúng trước." Cô nấu lúa mạch cho gà, ôm một bó cỏ khô thơm cho bò, xách vào một xô nước mát. Hai con gà nhảy lên miệng xô, chấm mỏ uống rồi ngửa cổ lên. Cô bò cũng uống một hơi dài. Xong xuôi, cô mới ngồi ăn phần ông lão để lại.

Đến giờ ngủ, bầy vật nói: "Cô ăn với chúng tôi, cô uống với chúng tôi, cô nghĩ đến tất cả chúng tôi. Chúc cô ngủ ngon." Cô út trải chăn cho ông lão trước, rồi mới nằm xuống chiếc giường bên cạnh. Nửa đêm, cả túp lều kêu răng rắc, cửa bật tung, xà nhà rền lên, nghe như mái nhà sập xuống. Nhưng rồi mọi thứ yên lặng, cô chẳng hề hấn gì, nên lại ngủ tiếp. Sáng ra, cô mở mắt và sững sờ. Cô đang nằm trong một gian phòng lớn, tường thêu hoa vàng trên nền lụa xanh, cạnh giường có đôi giày đính ngọc trai.

Cô còn ngỡ mình nằm mơ thì ba người hầu ăn mặc sang trọng bước vào. Trên giường bên cạnh, không còn ông lão mà là một chàng trai trẻ tuấn tú. Chàng nói: "Ta là hoàng tử, bị mụ phù thuỷ hoá thành ông lão sống trong rừng. Ba người hầu của ta bị biến thành gà mái, gà trống và bò lang. Phép chỉ tan khi có một cô gái thương cả người lẫn vật. Đêm qua, nhờ cô, túp lều đã hoá lại thành cung điện." Hoàng tử cho rước cha mẹ cô út đến dự lễ cưới. Còn hai cô chị thì phải vào rừng làm giúp việc cho nhà bác đốt than, cho đến khi biết thương những con vật đói.