Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em ruột, người anh thì giàu, người em thì nghèo. Một đêm Giáng sinh, nhà người em không còn lấy một mẩu bánh. Anh đành sang xin anh trai chút gì để đón lễ. Người anh cau mày, ném cho em một tảng thịt muối, rồi buông một câu: “Cầm lấy, rồi đi xuống tận hang quỷ cho khuất mắt ta!” Người em đã hứa thì phải giữ lời. Anh ôm tảng thịt, lầm lũi đi suốt một ngày, tới chiều tối thì thấy một ánh đèn sáng rực dưới chân núi.
Trước cửa hang có một ông lão râu tóc bạc phơ đang bổ củi. “Cháu đi đâu mà khuya thế?” “Dạ, cháu đi xuống hang quỷ, nếu cháu tìm được đường.” “Chính là chỗ này đấy,” ông lão cười. “Vào trong, chúng sẽ tranh nhau mua tảng thịt của cháu. Nhưng cháu đừng bán, trừ khi chúng đổi cho cháu chiếc cối xay nhỏ sau cánh cửa.” Quả nhiên, vừa bước vào, lũ quỷ nhỏ lố nhố ùa ra như kiến, đứa nào cũng đòi mua thịt. Người em lắc đầu, chỉ đòi chiếc cối xay. Kì kèo mãi, lũ quỷ đành chịu. Ra ngoài, ông lão dạy anh cách bảo cối xay, và cả cách bảo cối dừng lại.
Về tới nhà thì đã quá nửa đêm. Người em đặt chiếc cối lên bàn và nói: “Cối ơi, xay nến đi!” Cối quay tít, nến sáng rực cả nhà. Rồi anh bảo cối xay khăn trải bàn, xay thịt, xay bánh, xay đủ món ngon đón Giáng sinh. Người vợ mừng rỡ, cứ hỏi mãi chồng lấy cối ở đâu ra. Mấy hôm sau, anh mở tiệc mời cả họ hàng. Người anh giàu thấy bàn đầy ắp thức ăn thì tức tối lắm, nài nỉ mãi, chịu trả ba trăm đồng bạc để mua chiếc cối. Người em bán, nhưng chẳng dạy anh mình cách bảo cối dừng.
Đến mùa cắt cỏ, người anh bảo vợ ra đồng, còn mình ở nhà nấu cơm trưa. Ông đặt cối lên bàn bếp: “Cối ơi, xay cá trích với canh, xay cho nhanh vào!” Cối xay ra cá, ra canh, đầy nồi, đầy chậu, rồi tràn khắp sàn bếp. Ông xoay, ông vặn, ông lay, cối vẫn cứ xay. Canh dâng lên tới đầu gối, tới thắt lưng. Ông vội mở cửa chạy ra đường, sau lưng là cả một dòng suối canh cá cuồn cuộn đuổi theo như thác đổ. Ông chạy một mạch sang nhà em: “Lấy lại cái cối đi, không thì cả làng chìm trong canh cá mất!” Người em chỉ chịu nhận lại khi anh trả thêm ba trăm đồng nữa.
Có cả tiền lẫn cối, người em dựng một ngôi nhà bên bờ biển, rồi bảo cối xay vàng dát kín mái nhà. Ngôi nhà vàng lấp lánh, tàu thuyền đi xa còn trông thấy, ai cũng ghé vào xem chiếc cối thần. Một hôm, có ông thuyền trưởng tới hỏi: “Cối này xay được muối không?” “Muối ư? Cái gì nó cũng xay được.” Ông thuyền trưởng nghĩ, có cối này thì khỏi phải vượt biển xa đi chở muối nữa. Ông nài nỉ mãi, trả rất nhiều tiền, rồi vác cối chạy thẳng xuống tàu, vội đến nỗi quên cả hỏi cách bảo cối dừng.
Ra tới giữa biển, ông thuyền trưởng đặt cối lên boong: “Cối ơi, xay muối đi, xay cho nhanh vào!” Muối trắng tuôn ra như nước chảy. Chẳng mấy chốc khoang tàu đã đầy. Ông muốn cối dừng, nhưng xoay kiểu gì cối cũng không nghe. Đống muối cao mãi, cao mãi, con tàu nặng trĩu, từ từ chìm xuống. Ông thuyền trưởng vội nhảy xuống chiếc xuồng nhỏ, chèo một mạch vào bờ. Còn chiếc cối thì nằm dưới đáy biển sâu, và người ta bảo cho tới tận hôm nay nó vẫn còn xay muối. Vì thế mà nước biển mới mặn đấy.