Thời Tây Sơn, có một vị đô đốc tên là Khuê được cử ra trấn giữ đất Nghệ An. Ông lấy một người vợ trẻ tên là Đoàn, vừa xinh đẹp vừa hiền dịu. Ông tin cậy bà hết mực, giao cho bà coi sóc mọi việc trong dinh. Quan đô đốc vốn dễ gần, ai muốn gặp cũng được. Chỉ có một lệ nghiêm ngặt: buổi trưa khi ông ngủ, không ai được quấy rầy, dù vì bất cứ chuyện gì. Ngay cả vợ cả, vợ lẽ cũng không được vén tấm màn che phòng ông ngủ.
Một hôm, đúng giữa trưa, khi quan đô đốc đang ngủ, chợ Vinh bỗng bốc cháy dữ dội. Lửa ngùn ngụt, khói đen cuồn cuộn trùm cả một góc trời. Quan vẫn ngủ say, không hề tỉnh dậy. Chẳng ai dám vào báo tin. Không có lệnh quan, cũng chẳng ai dám nổi trống tập hợp quân lính đi chữa cháy. Người trong dinh chạy ngược chạy xuôi, không biết phải làm sao. Cuối cùng, họ kéo nhau đến kêu với bà Đoàn: "Việc gấp lắm rồi. Chỉ có bà mới dám đánh thức quan. Quan sẽ không mắng bà đâu, có gì chúng tôi xin chịu."
Bà Đoàn nghe người ta nói mãi, đành nhận lời. Bà khẽ khàng bước tới, vén tấm màn lên và cất tiếng gọi chồng. Nhưng vừa vén màn, bà đã thấy trên giường không phải là chồng mình, mà là một con rắn thần ba đầu đang nằm, cả ba cái đầu gác trên gối. Bà kinh hoàng, chưa kịp quay chạy thì con quái vật đã chồm dậy, vung đao chém một nhát. Bà Đoàn ngã xuống, chết ngay bên mép giường.
Quan đô đốc tỉnh dậy, thấy vợ nằm chết trong phòng, liền hỏi ai đã giết bà. Gia nhân kể lại đầu đuôi mọi việc. Nghe xong, ông khóc rất nhiều, thương người vợ hiền chỉ vì lo việc chung mà chết oan. Ông cho làm tang lễ, chôn cất bà tử tế. Cả dinh để tang, ai nấy đều thương tiếc người vợ hiền đã liều mình vì việc chung.
Hai ba tháng sau, bà Đoàn bắt đầu hiển linh. Ở làng, hết chuyện lạ này đến chuyện lạ khác xảy ra, nhà cửa đổ nát, của cải hư hao. Rồi bà báo cho dân làng biết, bà muốn họ lập đền thờ mình. Dân làng sợ hãi, vội vàng dựng một ngôi đền. Từ khi có đền, làng được yên ổn, và bà Đoàn trở thành vị thần phù hộ rất linh thiêng cho cả vùng.
Năm đầu đời vua Tự Đức, trong nhà lao ở tỉnh lỵ có giam một người tên là Biện Nghiễn, mắc tội nặng, canh giữ rất nghiêm ngặt. Vậy mà hắn vẫn trốn thoát được. Lính canh sợ mất vía, lùng khắp nơi mà không tìm ra. Cùng đường, các quan bên lính chạy đến đền bà Đoàn, sụp lạy không biết bao nhiêu lần, khấn rằng nếu bà giúp bắt được tên tù, họ xin làm một buổi hát tuồng để tạ ơn.
Lời khấn vừa dứt, một cậu bé đứng gần đó bỗng lên đồng, cất giọng nói thay bà: "Nghiễn trốn đi cùng vợ con. Hắn đã đến bến đò Bùng. Ta đang giữ chân hắn ở một quán trọ bên tay phải, ngay sau khi qua đò. Mau sai bốn năm người cưỡi ngựa đi, tới trước khi hết ngày thì sẽ còn bắt được hắn ở đó." Viên quan sai người phi ngựa đi ngay, và quả nhiên bắt được tên tù. Buổi hát tạ ơn được làm đúng như lời khấn, và danh tiếng bà Đoàn vang dội khắp nơi.
Lại có bà vợ một viên quan phủ đánh mất mười sáu lạng vàng. Tìm mãi không thấy, bà đến đền bà Đoàn khấn xin. Một người đồng liền lên đồng, nói: "Vàng của bà bị một đứa ở lấy trộm, giấu trong cái máng xối ở hiên phía tây. Về ngay mà lấy. Chậm thì nó dời đi chỗ khác." Bà vợ quan phủ vội vàng về nhà, quả thấy vàng nằm đúng chỗ ấy. Bà mổ một con lợn đem đến tạ lễ bà Đoàn.
Ở làng Am Cùng có hai người đàn bà. Người này gửi người kia bốn tiền, sau đến đòi. Người được gửi bảo đã trả rồi. Người gửi cãi: "Trả bao giờ? Nếu tôi lấy lại rồi thì tiền ấy đâu?" Hai người cãi nhau suốt dọc đường. Khi đi qua đền bà Đoàn, người gửi tiền thề: "Xin bà bắt kẻ nào gian tham bốn tiền phải hộc máu ra." Lời thề vừa dứt, bốn tiền rơi xuống trước cửa lớn, và chính người vừa thề ngã ra, nôn ra từng cục máu.
Dân làng chạy tới, sụp lạy bà Đoàn: "Bốn tiền có đáng là bao, xin bà tha cho người đàn bà dại dột này." Bà Đoàn liền nhập vào một người đồng mà phán: "Chị ta đã lấy lại tiền rồi, lại để kẻ khác trộm mất, giờ lại đổ cho người giữ hộ là chưa trả. Từ nay còn ai dám đến trước cửa ta mà thề bậy như thế nữa không?" Dân làng khấn vái mãi, ít lâu sau người đàn bà mới tỉnh lại. Nghe kể lại mọi chuyện, chị đến đền dâng lễ tạ tội. Từ đó, người Nghệ An càng kính sợ bà Đoàn, vị thần nhân hậu mà nghiêm minh.