Về kệ Người lớn

Bà Thị Phú ở chân núi Hồng Lĩnh

Khoảng 7 phút · 10 cảnh

Bà Châu Thị Phú sáu mươi tuổi dựng quán nước dưới chân núi Hồng Lĩnh để làm phúc cho khách hành hương. Một ông lão râu tóc bạc phơ nói giọng người Tàu ghé quán, để lại bốn câu thơ khó hiểu, rồi một đêm mưa gió biến mất, chỗ ông nằm mọc lên gò mối, và từ đó cuộc đời bà rẽ sang lối khác.

Cốt truyện theo: Truyện dân gian Việt Nam, A. Landes chép (1886)

Đời nhà Lý, ở làng Trảo Nha, tỉnh Hà Tĩnh, có một người đàn bà tên là Châu Thị Phú. Bà đã sáu mươi tuổi, họ hàng thân thích chẳng còn ai. Thấy đời mình đã về chiều, bà lên chùa Thiên Tượng trên núi Hồng Lĩnh xin ở lại tu hành. Sư trụ trì thấy bà thành tâm, bèn bảo: "Bà đã muốn tu thì phải làm phúc, tích lấy công đức. Bà hãy xuống chân núi mà ở, nấu nước cho khách thập phương lên chùa uống. Bố thí như vậy, công đức lớn lắm."

Thị Phú vâng lời. Bà dựng một cái quán nhỏ dưới chân núi, nơi khách đi đường có thể ghé vào uống bát nước chè xanh và nghỉ chân. Sáng nào bà cũng dậy từ tinh mơ, nhóm bếp, đun nồi nước to. Người lên chùa, kẻ xuống núi, ai ghé vào bà cũng rót nước mời, không lấy một đồng. Ba năm trôi qua như thế. Quán của bà thành chỗ dừng chân quen thuộc của khách hành hương núi Hồng Lĩnh.

Một hôm có một ông lão ghé quán. Râu tóc ông bạc trắng như cước, dáng người đẹp đẽ, oai nghiêm như một vị tiên. Nhưng ông lại nói giọng như người Tàu, Thị Phú nghe chẳng hiểu được câu nào. Từ hôm ấy, ngày nào ông cũng đến, ngồi uống nước rồi đi. Chẳng ai biết ông ở đâu, từ đâu tới. Bà vẫn rót nước mời ông như mời mọi người khách khác, chỉ cười trừ mỗi khi ông nói điều gì mà bà không hiểu.

Thấy bà không hiểu lời mình, một hôm ông lão lấy bút viết ra bốn câu thơ. Đại ý rằng: "Đừng nghĩ là mình không hiểu. Cuộc gặp gỡ này, năm trăm năm chẳng ai có được lần thứ hai. Núi đỏ rực hoa mai đang mừng vui. Cây thông nghìn cành rợp bóng đã trổ ra một nhánh thơm mùi quế." Thị Phú cầm tờ giấy, đọc đi đọc lại mà không đoán được ý. Người xưa giải rằng bốn câu ấy báo trước: vị tiên già sắp có một người con trai. Viết xong, ông lão đi mất, hơn sáu năm không thấy trở lại.

Sáu năm ấy, Thị Phú vẫn nhớ đến ông lão, cứ tiếc mãi sao ông không quay lại. Rồi bỗng một ngày ông lại hiện ra. Hôm đó trời nổi gió to, lạnh buốt, trong quán chỉ có bà với ông lão. Đêm xuống, bà đóng cửa, nhóm lửa lên cho ấm. Ông lão có vẻ mỏi mệt lắm, nằm co ro bên bếp lửa. Thương ông già yếu, Thị Phú lấy chiếc chiếu đắp lên người ông. Ngoài kia gió rít mưa gào suốt đêm. Sáng hôm sau, bà ra xem thì ông lão đã chết.

Thị Phú sợ hãi, không biết làm sao, chạy một mạch lên chùa báo với sư trụ trì: "Bạch thầy, đêm qua mưa gió, có một ông lão chẳng biết từ đâu đến nghỉ nhờ quán con. Không may ông ấy chết ở đó." Sư bấm đốt ngón tay tính một lúc, rồi đáp: "Bà chưa nói thật với ta. Ông lão ấy là tiên, không phải người phàm. Bà đã quen ông từ lâu. Ông đến để thử xem lòng tu của bà có thật không, mà bà không nhận ra. Nếu không tin, bà cứ về xem. Ông không còn ở đó nữa đâu. Chỗ ông nằm, một gò mối đã mọc lên, phủ kín cả căn quán rồi."

Thị Phú vội trở về. Mọi sự đúng như lời sư nói. Ông lão đã biến đâu mất. Chỗ ông nằm đêm qua giờ là một gò mối đất đỏ, mọc cao lên trùm kín cả mái quán. Bà đứng lặng hồi lâu, lòng vừa sợ vừa lạ. Ít lâu sau, bà nhận ra mình đã có mang. Đủ ngày đủ tháng, bà sinh ra một bé trai. Ngoài sáu mươi tuổi mà lại làm mẹ, Thị Phú xấu hổ vô cùng, chẳng dám nhìn mặt ai trong vùng.

Bà bế con lên chùa, xin sư nhận đứa bé, vì bà không còn mặt mũi nào mà nuôi nó giữa làng. Sư bảo: "Bà không biết mình đang làm gì đâu. Để ta tìm cách gỡ cho." Rồi sư viết một tờ cáo thị, dán lên cho mọi người cùng đọc. Trong đó nói rằng đêm qua có một người đàn bà lạ đến sau chùa, sinh con, trời tối nên không ai hay. Sáng ra người ta thấy một bé trai nằm đó, nhà chùa đã giao cho bà Thị Phú nuôi. Ai có quen biết đứa trẻ thì đến mà nhận. Dĩ nhiên chẳng ai đến nhận cả, và Thị Phú cứ thế nuôi con.

Đứa trẻ lớn lên từng ngày, thông minh sáng dạ, chăm học hơn hẳn chúng bạn. Đến tuổi đi thi, cần có họ tên đàng hoàng, sư trụ trì bảo: "Cha nó nói giọng người Tàu, vậy ta cho nó mang họ Ngô." Ngày ấy người mình vẫn gọi người phương Bắc là người Ngô. Còn tên thì sư chọn một chữ mang nghĩa quý báu. Năm mười ba tuổi, cậu bé đi thi, đỗ đầu cả ba kỳ liền. Cậu trở thành ông tổ của một dòng họ đời đời hiển đạt.

Còn ở chỗ cái quán của bà Châu Thị Phú ngày xưa, gò mối không ngừng lớn lên, mỗi năm một cao, đến nay đã to như một quả đồi. Người qua lại dưới chân núi Hồng Lĩnh, nhìn quả đồi đất đỏ ấy, lại kể cho nhau nghe chuyện bà già nấu nước làm phúc, chuyện vị tiên già nói giọng người Tàu, và cậu bé họ Ngô đỗ đầu ba kỳ thi năm mười ba tuổi.