Về kệ Người lớn

Bà Triệu cưỡi voi ra trận

Khoảng 7 phút · 10 cảnh

Người con gái đất Cửu Chân không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người, vào núi Nưa chiêu mộ tráng sĩ, mặc áo giáp vàng cưỡi voi ra trận đánh quân Đông Ngô. Truyện kể theo sử cũ và truyền thuyết về Bà Triệu, vị nữ tướng khiến giặc phải than: đánh hổ còn dễ, đối mặt Bà Vương mới khó.

Cốt truyện theo: Truyền thuyết dân gian và sử cũ Việt Nam

Vào khoảng thế kỷ thứ ba, nước ta bị nhà Đông Ngô đô hộ. Ở vùng núi Quan Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc đất Thanh Hóa, có một người con gái họ Triệu, người đời sau quen gọi là Bà Triệu. Tương truyền ngay từ nhỏ, bà đã có chí khí khác thường. Có lần cha hỏi lớn lên con muốn làm gì, cô bé đáp rằng sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị. Cha mẹ mất sớm, bà về ở với anh trai là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng có tiếng trong vùng. Càng lớn, bà càng cao lớn khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, có chí lớn.

Vợ của Triệu Quốc Đạt là người ác nghiệt, thường hà hiếp em chồng. Năm mười chín tuổi, không chịu nổi sự ác nghiệt ấy, bà giết người đàn bà ấy rồi bỏ nhà vào núi Nưa. Núi Nưa rừng sâu hiểm trở, là nơi những người không chịu nổi ách quan lại nhà Ngô tìm đến ẩn náu. Bà ở trong núi, ngày ngày luyện tập võ nghệ, tìm người cùng chí hướng. Tiếng tăm người con gái họ Triệu lan ra khắp vùng. Trai tráng các làng lần lượt kéo vào núi theo bà, chẳng bao lâu đã có hơn một nghìn tráng sĩ.

Có người khuyên bà nên lấy chồng, yên phận như bao cô gái khác. Sách Thanh Hóa kỷ thắng chép lại câu trả lời mà người đời còn truyền tụng mãi. Bà nói rằng: Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người! Người hỏi lặng đi, không dám nói thêm lời nào. Từ đó, không ai còn nhắc đến chuyện chồng con với bà nữa.

Mùa xuân năm Mậu Thìn, quan lại nhà Ngô càng tham tàn, dân chúng khổ sở trăm bề. Bà bàn với anh là Triệu Quốc Đạt việc khởi binh. Hai anh em dựng cờ ở vùng núi Nưa và Yên Định, nghĩa quân đánh chiếm huyện trị Tư Phố bên sông Mã, căn cứ lớn của quân Ngô trên đất Cửu Chân. Đang lúc thanh thế lên cao thì Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời. Nghĩa quân thấy bà can đảm, giỏi cầm quân, bèn cùng nhau tôn bà lên làm chủ tướng.

Tương truyền, mỗi khi ra trận, bà mặc áo giáp vàng, chân đi guốc ngà, đầu cài trâm vàng, ngồi trên lưng một con voi trắng một ngà. Quân sĩ tôn bà là Nhụy Kiều tướng quân. Bà liên kết với ba anh em họ Lý ở Bồ Điền, đánh chiếm thêm nhiều vùng đất, dựng tuyến phòng giữ từ Bồ Điền ra tận cửa biển Thần Phù để chặn đường quân Ngô tiếp viện. Quân của bà đi đến đâu, dân chúng hưởng ứng đến đó. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng bà họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay.

Quân Ngô thua liền mấy trận, khiếp sợ uy danh của bà. Tương truyền chúng còn tìm cách mua chuộc, phong cho bà làm Lệ Hải Bà Vương, hứa hẹn cho thật nhiều vàng bạc, nhưng bà không hề động lòng. Binh lính Ngô hễ nghe phải đi đánh Bà Triệu là lo lắng, truyền miệng với nhau hai câu thơ: Hoành qua đương hổ dị, đối diện Bà Vương nan. Nghĩa là: múa giáo đánh hổ còn dễ, đối mặt với Bà Vương mới khó.

Tin cuộc khởi nghĩa lan rộng truyền về đến kinh đô nước Ngô. Vua Ngô là Tôn Quyền liền sai Lục Dận sang làm thứ sử Giao Châu, đem tám nghìn quân sang đàn áp. Lục Dận là kẻ mưu mẹo. Vừa đến nơi, hắn không vội đánh mà dùng của cải mua chuộc các thủ lĩnh địa phương, chia rẽ lực lượng nghĩa quân. Rồi quân Ngô dồn sức vây đánh căn cứ Bồ Điền. Những trận đánh ác liệt nổ ra. Nghĩa quân chống giữ quyết liệt hơn hai tháng, nhưng thế cô sức yếu, không có nơi nào tiếp ứng.

Căn cứ Bồ Điền bị vây chặt và cô lập. Bà Triệu cùng nghĩa quân chiến đấu đến cùng, nhưng không xoay chuyển được tình thế. Cuối cùng, bà tuẫn tiết trên núi Tùng, nay thuộc xã Triệu Lộc, đất Thanh Hóa. Năm ấy là năm Mậu Thìn, bà mới hai mươi ba tuổi. Tương truyền, ba anh em họ Lý tìm được thi hài nữ chủ tướng, đắp mộ chu đáo cho bà ngay trên đỉnh núi. Không bao lâu sau, cả ba người cũng tuẫn tiết dưới chân núi Tùng, giữ trọn lời thề cùng sống chết với chủ tướng của mình.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết rằng tuy bà chưa giữ được đất Lĩnh Biểu như Trưng Vương ngày trước, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới. Các sử thần nhà Nguyễn thì khen rằng con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường, Bà Triệu khí phách hơn người, dẫu là nam nhi cũng khó sánh. Trong dân gian, câu ca về bà còn được ru cho trẻ nhỏ qua bao đời: Ru con con ngủ cho lành, để mẹ gánh nước rửa bành con voi. Muốn coi lên núi mà coi, coi bà quản tướng cưỡi voi đánh cồng.

Ngày nay, trên núi Tùng vẫn còn lăng mộ của bà. Cách đó không xa, trên núi Gai, đền thờ Bà Triệu vẫn hương khói quanh năm. Hằng năm vào ngày hai mươi mốt tháng hai âm lịch, dân trong vùng lại mở hội làm giỗ bà. Tên bà được đặt cho huyện Triệu Sơn, xã Triệu Lộc, cho những con phố ở Hà Nội và nhiều nơi khác. Người con gái núi Quan Yên đã không khom lưng trước ai, và gần hai nghìn năm sau, non sông vẫn cúi đầu nhớ bà.