Vào đời nhà Đường đô hộ nước ta, ở đất Đường Lâm có một người tên là Phùng Hưng. Ông và cha ông đời đời làm tù trưởng trong vùng, người ta gọi là quan lang. Nhà ông giàu có mà hay giúp đỡ người nghèo, nên dân trong vùng ai cũng quý. Phùng Hưng khỏe mạnh lạ thường, vật được trâu, đánh được hổ. Tiếng tăm về sức mạnh và lòng tốt của ông lan khắp các châu quanh vùng.
Em ông là Phùng Hãi cũng có sức khỏe phi thường. Hãi nâng nổi vật nặng nghìn cân, cõng được chiếc thuyền chở nghìn hộc mà đi xa hơn mười dặm. Các tộc man trong vùng nghe tên hai anh em đều kiêng nể. Bấy giờ quan lại nhà Đường bóc lột nặng nề, thuế má chồng chất, dân tình khổ cực. Hai anh em nhìn cảnh ấy, lòng không yên.
Vào khoảng niên hiệu Đại Lịch nhà Đường, đất Giao Châu loạn lạc. Anh em họ Phùng đem quân đi thu phục các làng xóm quanh vùng. Phùng Hưng đổi tên là Cự Lão, xưng hiệu Đô Quân. Phùng Hãi đổi tên là Cự Lực, xưng hiệu Đô Bảo. Theo kế của Đỗ Anh Luân, họ đi tuần khắp đất Đường Lâm, Trường Phong. Hào trưởng các nơi đều theo về, uy danh vang dội một vùng.
Phùng Hưng tuyên bố sẽ đánh thẳng vào phủ đô hộ. Quan đô hộ nhà Đường là Cao Chính Bình đem quân ra đánh nhưng không thắng nổi. Hắn lo sợ, uất ức quá mà sinh bệnh, rồi chết. Phùng Hưng kéo quân vào phủ thành, ở đó trông coi việc nước. Hào trưởng các châu Đường Lâm, Phong Châu đều quy phục. Lần đầu sau bao nhiêu năm, người Việt lại tự cai quản lấy đất của mình.
Phùng Hưng cai trị được bảy năm thì mất. Nhiều người muốn lập Phùng Hãi lên thay. Nhưng có viên đầu mục tên là Bồ Phá Cần, sức khỏe có thể xô đổ núi, nhất quyết không chịu, ép mọi người lập con Phùng Hưng là Phùng An. Phùng An lên ngôi rồi đem quân đánh chú. Phùng Hãi lánh vào động Chu Nham, từ đó không ai biết đi đâu. Người đời sau tiếc rằng, chú cháu tranh nhau như thế, cơ nghiệp họ Phùng chẳng giữ được lâu.
Phùng An tôn cha là Bố Cái Đại Vương. Theo tiếng của người Việt, cha gọi là bố, mẹ gọi là cái. Gọi ông là Bố Cái, tức là coi ông như cha mẹ của dân. Có người lại hiểu hai chữ ấy là vua cái, nghĩa là vua lớn. Hiểu thế nào thì tên gọi ấy cũng cho thấy lòng dân kính yêu ông. Nhưng chỉ hai năm sau, nhà Đường sai Triệu Xương sang làm đô hộ. Triệu Xương sai người sang dụ dỗ, Phùng An đem quân ra hàng. Họ Phùng từ đó tan tác mỗi người một nơi.
Phùng Hưng mất rồi mà vẫn hiển linh. Dân các làng thường nghe tiếng ngựa xe rầm rập trên mái nhà, trên ngọn cây cao. Ngẩng lên thì thấy cờ ngũ sắc, kiệu vàng ẩn hiện trong mây, văng vẳng tiếng nhạc. Trước khi có việc lành việc dữ, đêm đêm lại có người lạ đến báo cho hào trưởng để bảo cả làng. Dân lập đền thờ ông ở phía tây phủ thành. Cầu mưa thì được mưa, cầu tạnh thì được tạnh, ai mất của đến khấn cũng tìm lại được. Mỗi khi có giặc cướp, có người lạ khả nghi, dân lại đến đền khấn hỏi, biết trước điều họa điều phúc. Nơi ấy đến nay người ta vẫn gọi là Lang.
Hơn một trăm năm sau, quân Nam Hán kéo sang xâm lược. Ngô Quyền đêm ngày lo nghĩ cách chống giặc. Một đêm, ông nằm mộng thấy một cụ già đến, xưng tên là Phùng Hưng, nói rằng: "Ta đã sắp sẵn các đội quân thần giúp sức. Ông hãy mau mau tiến quân." Tỉnh dậy, Ngô Quyền tin là có thần giúp, lòng càng thêm vững.
Trận Bạch Đằng nổ ra, quân ta nghe rõ tiếng binh mã rầm rập trên không trung, như có muôn quân cùng xông trận. Quân Nam Hán thua to, nước ta từ đó thoát hẳn ách đô hộ của phương Bắc kéo dài hơn một nghìn năm. Thắng giặc rồi, Ngô Quyền sai sửa đền thờ Phùng Hưng cho to đẹp, dâng lễ vật, cờ quạt, chiêng trống. Từ đó, việc tế lễ ông thành lệ của các triều. Đời Trần, năm Trùng Hưng thứ nhất, ông được phong là Phù Hựu Đại Vương, năm Trùng Hưng thứ tư thêm hai chữ Chương Tín, năm Hưng Long thứ hai mươi lại thêm hai chữ Sùng Nghĩa. Ngày nay ở Đường Lâm, đền thờ Bố Cái Đại Vương vẫn còn hương khói.