Năm Bính Dần đời nhà Trần, vua Trần Phế Đế đi săn, kéo theo cả một đoàn quân hầu đông đúc, ngựa xe rầm rập. Đến bờ bắc sông Đà, vua cho dựng trại nghỉ. Ban ngày, tiếng tù và vang khắp núi, chó săn sủa inh ỏi, lửa đốt vây từng sườn đồi để lùa thú ra. Đêm xuống, trong trướng lớn, đèn đuốc sáng rực, vua mở tiệc rượu linh đình cùng các quan. Tiếng cười nói, tiếng chén bát vọng ra tận bờ sông. Còn trong rừng sâu, muông thú nép mình trong hang hốc, run rẩy nghe tiếng người, không biết sáng mai đến lượt con nào.
Có một con cáo từ chân núi đi về phía nam, gặp một con vượn già, liền bảo: “Vua tôi nhà ấy vào rừng săn bắn, nhắm cả vào bọn ta. Mạng sống của muông chim lúc này như treo trên sợi dây cung. Tuyết chưa rơi, gió chưa về, ta mà cứ ngồi yên thì nguy mất. Tôi định đến nói mấy lời ngăn họ lại, bác có đi với tôi không?” Vượn già lắc đầu: “Nói mà giải được vây thì hay lắm. Chỉ sợ nói không xong lại bị nghi, bị lộ hình, chuốc họa vào thân.” Cáo cười khẩy: “Bọn theo hầu vua toàn là võ biền, bụng chẳng có chữ, mắt chẳng tinh đời, sợ gì chúng nhận ra.” Vượn ngẫm một lúc rồi gật đầu.
Thế là cả hai hóa làm hai người đàn ông. Một người xưng là tú tài họ Viên, một người xưng là xử sĩ họ Hồ. Nửa đêm, họ đến gõ cửa hành cung, nhờ viên nội thị dâng vào một lời tâu: “Chúng tôi nghe nói thánh nhân trị vì thì trời đất trong sáng, vua sáng sửa đức thì chim muông cũng vui hòa. Nay chúa thượng làm chủ muôn dân muôn vật, lẽ ra nên giăng lưới tìm người hiền, đem xe ngựa và lời lẽ khiêm cung đón kẻ sĩ ở chốn quê mùa, để trong triều nhiều người giỏi giúp dân. Cớ sao lại đi săn gấu bắt thỏ, giành cả việc của người coi núi rừng?”
Lúc ấy vua đã say, đang muốn đi nằm, bèn sai thủ tướng Hồ Quý Ly ra tiếp hai người khách ở dưới thềm, và giảng cho họ biết săn bắn là phép tắc có từ đời xưa, sao lại bỏ được. Người họ Hồ thưa: “Đời xưa đuổi tê voi là để trừ hại cho dân, mở cuộc săn là để luyện quân. Còn nay thì khác. Đang giữa mùa hạ mà bắt dân khó nhọc là trái thời. Giẫm nát lúa má để thỏa thú vui là trái chỗ. Vây quanh đầm, đốt trụi núi là trái lễ. Sao ngài không tâu với thánh thượng quay xe về, cho người và vật đều được yên?” Quý Ly đáp gọn: “Không được.”
Người họ Hồ lại nói: “Tôi chỉ xin cho những loài chim yếu thú hèn. Còn giống tinh khôn nhanh nhẹn thì tự biết chạy xa bay cao, đâu chịu ôm cây chờ chết.” Quý Ly bảo: “Nhà vua đi chuyến này đâu phải ham chim muông. Ngài nghe vùng này có con hồ tinh nghìn tuổi, nên mới kéo quân đến diệt, cho loài yêu quái hết đường tác oai tác quái.” Nghe đến đó, người họ Viên đưa mắt nhìn người họ Hồ, mỉm cười. Quý Ly hỏi vì sao cười. Người họ Hồ nhanh nhảu đáp: “Bây giờ lang sói đầy đường, sao ngài lại đi hỏi tội con hồ ly?”
Quý Ly hỏi ý ấy là thế nào. Người họ Hồ đáp: “Nay bờ cõi chưa yên. Chế Bồng Nga như con chó dại cắn càn ở phương nam. Lý Anh như con hổ đói gầm thét ở phía tây bắc. Giặc giã lấm lét còn đó. Sao không giương cung thánh nhân, tuốt gươm thiên tử, lấy nhân làm yên ngựa, lấy nghĩa làm mái chèo, lấy hào kiệt làm nanh vuốt, lấy trung tín làm áo giáp, bắt hết giặc giã cho gần xa yên ổn? Bỏ việc ấy mà lẩn quẩn đi săn, dù được chim thú chất cao như núi, chúng tôi cũng chẳng phục.” Quý Ly nghe ra lẽ phải. Hai người mừng thầm: “Kế của ta xong rồi.” Họ nâng chén rượu đầy, uống cạn, rồi bàn luận thao thao, lời trôi như nước suối, không vấp một chữ.
Quý Ly ngồi lặng hồi lâu rồi nói: “Ta từng tranh luận với sứ người Tàu, người Chiêm, chưa bao giờ chịu kém lý. Thế mà nay lại lúng túng trước mấy gã này. Các gã nếu chẳng phải yêu núi ma rừng thì sao ăn nói sắc bén đến vậy?” Hai người nổi giận: “Ông là thủ tướng, lẽ ra phải tiến cử người tài cho nước nhà dùng. Sao lại ghen người hiền, ghét kẻ giỏi? Sách xưa dạy thấy người có tài thì coi như mình có tài, ông quên rồi sao?” Quý Ly đổi sắc mặt, vội xin lỗi, rồi dỗ dành: “Đời này hiếm người như các ông. Sao không vứt nón lá áo tơi, ra lập công với đời, để tiếng về sau, việc gì phải chết khô trong hang núi không ai biết đến?”
Hai người cười: “Chúng tôi nương thân bên làn khói, náu mình trong hang mây. Ngủ thì cỏ làm đệm, khát thì suối làm rượu, bạn bè là hươu nai, ăn quả bách, nhai lá tùng, ngâm trăng vịnh gió cho khỏi vướng lưới trần. Ai rảnh đâu mà nhổ một sợi lông giúp đời.” Rồi họ bảo: “Chúng tôi vốn quen phóng túng, xưa nay hay thơ. Đêm nay dự tiệc, lẽ nào không có mấy câu ghi lại.” Người họ Hồ ngâm một bài, đại ý: uống nước khe trong, chẳng màng danh lợi; hang đá dễ nương thân, bụi trần khó đặt chân; mây khói rồi đây không dấu vết. Người họ Viên ngâm tiếp, rằng nghìn khe muôn suối đều có lối thông, ta về rừng, bác về hang, cùng một lòng tìm chốn yên thân.
Ngâm xong, hai người chắp tay từ biệt, thong thả bước ra khỏi trại. Quý Ly vẫn ngờ, lén sai người rón rén theo sau. Đến lưng chừng núi, dưới ánh trăng mờ, người đi theo thấy hai bóng người bỗng thấp hẳn xuống, hóa thành một con cáo và một con vượn, rồi chạy vụt vào rừng sâu, biến mất. Người đời sau bàn rằng: con người vốn là giống khôn thiêng nhất trong muôn loài, cớ sao cuộc tranh luận ở sông Đà lại để loài vật thắng thế? Ấy là vì tâm thuật của Quý Ly vốn không ngay thẳng, nên yêu quái mới dám đến đùa cợt. Nước sông trong thì người ta rửa mũ, nước đục thì rửa chân: kẻ khác đối với mình ra sao, đều do chính mình mà thôi.