Về kệ Người lớn

Cao Biền tìm long mạch phương Nam

Khoảng 9 phút · 11 cảnh

Thầy địa lý Cao Biền cưỡi diều đại bàng sang phương Nam, đem hài cốt chôn vào hàm rồng và gieo năm thúng lúa thành âm binh, mong con cháu mình làm vua. Nhưng một người học trò tham lam và mười ngày nóng vội đã làm hỏng tất cả, để lại sông Trà Khúc nước đỏ và núi trọc ở Nghệ An.

Cốt truyện theo: Truyện dân gian Việt Nam, A. Landes chép (1886)

Ngày xưa bên Tàu có một thầy địa lý tên là Cao Biền, xem thế đất giỏi đến mức không ai sánh kịp. Hắn từng giúp hoàng đế nhiều việc lớn, nên một hôm hoàng đế muốn ban thưởng thật hậu. Vàng bạc mang ra, Cao Biền đều lắc đầu. Hắn tâu: "Xin bệ hạ cho thần bịt mắt lại, đưa tay chỉ đại một kho trong cung. Kho ấy có gì, xin ban cho thần cả." Hoàng đế lấy làm lạ nhưng vẫn bằng lòng. Cao Biền nhắm mắt, giơ tay chỉ, và ngón tay hắn dừng đúng vào kho chứa bút lông.

Người trong triều cười thầm, cho rằng Cao Biền dại, bỏ vàng lấy bút. Nhưng hắn chẳng để tâm. Hắn sai đặt một phiến đá trước cửa kho, rồi bảo người khiêng bút ra cho mình. Cầm cây nào, hắn đập ngòi vào đá cây ấy. Bút gãy, bút toè, chất thành đống. Ngày này qua ngày khác, Cao Biền cứ đập mãi, cả kho bút lông của hoàng đế hư gần hết. Đến khi kho sắp cạn thì có một cây bút đâm xuyên qua phiến đá như đâm qua tờ giấy. Cao Biền mỉm cười, cầm lấy cây bút ấy mà về nhà.

Về nhà, Cao Biền dựng một con diều hình chim đại bàng. Hắn chấm cây bút thần vào mực, vẽ cho con chim hai con mắt. Nét bút vừa xong, con diều rùng mình, đôi cánh giấy giương lên, bay được như chim thật. Cao Biền leo lên lưng nó, bay về phương Nam, sang đất An Nam. Hắn biết nơi ấy núi sông chằng chịt, có nhiều huyệt đế vương, chôn mả tổ vào đó thì con cháu đời đời được làm vua. Hắn từng mơ tự mình xưng vương, nhưng rồi ngẫm lại: "Ta đã già, lại chẳng có con trai. Thôi thì để ngôi báu cho con rể."

Cao Biền quay về Tàu, gọi con rể đến, dặn phải bốc mộ cha ruột lên, đem thiêu, gói lấy tro cốt mà mang theo. Người con rể nghe lời cha vợ, chẳng dám hỏi han nhiều. Hai cha con lặn lội sang đất An Nam, vào miền Quảng Bình, tìm đến một khúc sông mà Cao Biền đã nhìn thấy từ trên lưng diều. Dưới đáy sông ấy có hàm một con rồng đang há ra, chỗ khí thiêng của đất tụ lại mạnh nhất. "Đặt cốt cha con vào miệng rồng," Cao Biền nói, "thì nhà con sẽ có thiên hạ."

Cao Biền đưa gói hài cốt cho một người học trò giỏi bơi lặn, dặn lặn xuống đáy sông, đặt vào hàm rồng, chờ rồng ngậm lấy rồi mới được trồi lên. Nhưng người học trò này nhiều tham vọng. Theo thầy lâu ngày, hắn đã đoán ra mọi việc. Từ trước, hắn lén bốc hài cốt cha mình, đem giấu gần bờ sông. Lặn xuống đáy, hắn đặt cốt cha mình vào đúng hàm rồng, còn gói hài cốt thầy giao thì đem treo vào mang con rồng. Lên bờ, hắn thưa với thầy rằng mọi việc đã xong.

Cao Biền tưởng việc đã thành, liền bày bước thứ hai. Hắn bảo con rể sắm năm thúng lúa, mỗi thúng một giống. Rồi hắn dẫn con rể lên chỗ vai rồng, đào ba cái hố, chôn cả năm thúng lúa xuống đó. Mỗi hạt lúa về sau sẽ hoá thành một người lính âm binh. Hắn dặn con rể: "Con phải chờ đủ ba năm, chín tháng và mười ngày. Hết hạn ấy, con ra trước mấy nấm đất này, gọi thật to: cha ơi, dậy mà làm vua! Thiếu một ngày cũng không được." Dặn xong, Cao Biền trở về Tàu.

Nhưng trời không chiều lòng kẻ mưu đồ. Gói hài cốt treo ở mang rồng bị dòng nước cuốn trôi, tan tác chẳng còn. Ba năm chín tháng trôi qua, còn thiếu đúng mười ngày thì con gái Cao Biền trở dạ, sinh một lúc ba đứa con trai. Đứa đầu mặt đỏ, tay cầm gươm và ấn. Đứa thứ hai mặt đen như sắt, đứa thứ ba mặt xanh, đứa nào cũng cầm một thanh gươm. Vừa lọt lòng, cả ba đã biết đi, lững thững tới ngồi lên bàn thờ tổ tiên. Người cha kinh hãi, run rẩy kêu: "Sao mình lại đẻ ra quỷ thế này!"

Sợ tai hoạ đổ xuống cả nhà, người con rể vung đao giết cả ba đứa trẻ. Rồi hắn quay sang trách vợ: "Cha cô bắt tôi làm những việc trái đạo, nên cô mới đẻ ra yêu quái." Đang rối trí, hắn chạy một mạch tới chỗ chôn lúa, đứng trước mấy nấm đất mà gào lên: "Cha ơi, dậy mà làm vua!" Mặt đất liền rung chuyển. Những hình người lố nhố đội đất trồi lên, nhiều không đếm xuể. Nhưng vì còn thiếu mười ngày, phép chưa đủ, chúng chẳng có chút sức lực nào, vừa đứng dậy đã đổ gục xuống. Người con rể hoảng sợ, bỏ chạy.

Lúc ấy Cao Biền còn ở bên Tàu. Gió ngược thổi mãi, giữ chân hắn lại, nên hắn không kịp sang ngăn con rể phá hỏng mọi việc. Khi tin dữ tới tai, Cao Biền giận đến tím mặt. Hắn sai chém đầu cả người con rể lẫn người học trò phản thầy. Rồi hắn lại cưỡi con diều đại bàng bay khắp đất An Nam, tìm từng huyệt quý mà phá cho mất hết linh khí. Tới sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi, nơi hắn đã thả hài cốt, Cao Biền giết con rồng dưới sông và nói: "Ta không được làm vua thì cũng chẳng để ai làm vua." Từ đó nước sông Trà Khúc nhuốm sắc đỏ.

Cao Biền bay ra Nghệ An. Trên đỉnh một ngọn núi gọi là núi Đầu Rồng có một huyệt thiêng. Hắn lấy một miếng đồng ra trấn yểm. Từ đấy, trên núi chỉ còn hơi chết lạnh lẽo, cây cỏ chẳng mọc nổi một ngọn. Ra tới Thanh Hoá, hắn cũng gặp một huyệt rồng. Nhưng nhìn kỹ, Cao Biền bĩu môi, thấy con rồng ấy bị què, cho rằng rồng què thì chẳng sinh nổi vua, nên bỏ đi, không thèm yểm. Người ta bảo vì thế mà các triều vua của nước ta về sau đều phát tích từ đất Thanh Hoá.

Ở Phú Yên, sát bờ biển, có một gò cát nhô lên, trông hệt như một nấm mồ. Dân thuyền bè qua lại vùng ấy gọi nó là mả Cao Biền. Lạ một điều là gió biển thổi bao năm, sóng vỗ bao mùa, gò cát vẫn nguyên vẹn, vẫn giữ đúng dáng một nấm mả. Người ta nói đó là mồ của Cao Biền, kẻ cả đời đi tìm long mạch để làm vua mà rốt cuộc chẳng được gì. Còn thực hư thế nào, người kể chuyện năm xưa cũng chỉ biết thuật lại như vậy mà thôi.