Ngày xưa ở tỉnh Nam Định có hai vợ chồng giàu có. Chồng tên là Trần Văn Hải, vợ tên là Huỳnh Thị Du. Họ chỉ có một mụn con gái, đặt tên là Xuân. Cô bé sinh ra đã có điều lạ: bàn tay trái có tới sáu ngón. Cha mẹ cưng cô như trứng mỏng. Năm mười ba tuổi, Xuân đã lớn lên xinh đẹp hơn người. Thế rồi một trận đậu mùa ập đến, cô ngã bệnh và qua đời. Hai ông bà khóc mãi không thôi, nhà cao cửa rộng mà lạnh tanh như chùa vắng.
Năm tháng trôi qua, nỗi nhớ con chẳng vơi đi chút nào. Một hôm, hai vợ chồng bảo nhau: "Người ta đồn rằng ở tỉnh Quảng Yên có một cái chợ trời sinh, tên là chợ Mành Mành. Mỗi năm chợ chỉ họp một lần, vào ngày mồng một tháng sáu, kéo dài ba ngày ba đêm. Trong mấy ngày ấy, người sống và người chết cùng kéo đến mua bán." Các cụ còn kể, hồn người chết tiêu bằng tiền giấy con cháu đốt cho. Người bán thả đồng tiền vào chậu nước: tiền âm phủ nổi lên, tiền dương gian thì chìm xuống. Hai ông bà quyết làm như người đi buôn, lên đường ra Quảng Yên.
Hồi con gái còn sống, hai ông bà đã cho thợ làm riêng cho cô một cái quả đựng trầu nhỏ bằng bạc. Từ khi cô mất, họ cất giữ nó làm vật kỷ niệm, không cho ai dùng. Lần này đi chợ, họ mang theo cả cái quả ấy. Đến chợ Mành Mành, hai ông bà bày hàng ra như bao người buôn khác, rồi đặt cái quả bạc ngay giữa sạp cho thật dễ thấy. Chợ đông nghịt, khói sương bảng lảng. Người qua kẻ lại, chẳng biết ai là người sống, ai là hồn đã khuất. Bà mẹ ngồi canh hàng, mắt dõi theo từng gương mặt con gái đi ngang.
Một hôm, bà đang ngồi bên sạp thì có một cô gái trẻ dừng lại trước mặt. Bà vội mời cô ăn miếng trầu trong cái quả bạc. Cô gái nhìn cái quả, ngẩn người, rồi hỏi hai ông bà quê ở đâu. Hai ông bà đáp: "Chúng tôi vẫn khóc thương đứa con gái tên Xuân, nó mất đã hơn hai mươi năm rồi. Vì thế chúng tôi tìm đến đây, mong được gặp lại nó." Cô gái hỏi: "Cái quả này bà mua ở đâu, giá bao nhiêu?" Bà đáp: "Tôi làm cho con gái tôi, nhưng nó mất năm mười ba tuổi." Nghe đến đó, cô gái biết chắc đây là cha mẹ mình.
Ba người ôm chầm lấy nhau mà khóc. Bà mẹ ôm chặt con gái trong tay, không chịu buông ra, như sợ chỉ cần lơi tay một chút là con lại tan vào sương khói. Ông bố đứng bên, nước mắt chảy dài trên chòm râu bạc. Một lúc lâu, cô Xuân mới nói: "Cha mẹ đã tìm con đến tận đây, vậy cha mẹ hãy theo con xuống dưới ấy, để xem cõi âm ra sao." Hai ông bà bằng lòng ngay, chẳng chút đắn đo. Cô gái dắt cha mẹ rời khỏi chợ, đi vào làn sương mỗi lúc một dày.
Dưới âm phủ, cô Xuân đã lấy chồng. Chồng cô là một viên quan coi việc tuần phòng, giữ trật tự cõi âm. Khi cô dẫn cha mẹ về nhà, chàng rể hỏi: "Người sống đến đây làm gì thế?" Cô đáp: "Đây là cha mẹ em. Em đưa ông bà xuống cho biết vợ chồng mình sống ra sao. Ông bà giàu có, nhưng chỉ có mình em là con, nên từ ngày em mất, ông bà chẳng lúc nào nguôi." Chàng rể nghĩ ngợi rồi nói: "Ít khi có cha mẹ nào xuống được tới đây. Ta cho ông bà ở lại ba ngày, không hơn. Ta sẽ dẫn ông bà đi xem các phòng, xem kẻ có tội bị trị ra sao."
Chàng rể dẫn hai ông bà vào gian thứ nhất. Vừa bước vào, họ đã thấy tên mình ghi rõ trên tấm thẻ. Hai ông bà sẽ phải chịu tội vì cho vay nặng lãi: lãi chồng lên lãi, bắt người ta trả gấp năm gấp sáu lần số vốn. Ai trả chậm thì bị giam trong nhà riêng, không cho ăn, cho đến khi phải bán hết của cải, đem cả con cái đi cầm cố mà trả nợ. Đọc đến đó, hai ông bà run như cầy sấy. Bao nhiêu năm họ chỉ đếm tiền vào, chưa từng nghĩ tới những người phải khóc vì món nợ ấy.
Hai ông bà quay sang hỏi chàng rể: "Khi trở về dương gian, chúng tôi phải làm gì để rửa sạch tội lỗi?" Chàng rể đáp: "Muốn rửa tội, cha mẹ phải đem hết của cải ra làm chay, cúng lễ và bố thí cho người nghèo. Đến khi trong tay không còn gì nữa thì tội lỗi mới được xoá." Hai ông bà cúi đầu vâng dạ. Ba ngày trôi qua rất nhanh. Cô Xuân dắt cha mẹ trở lên chợ Mành Mành, rồi hai ông bà lên đường về Nam Định, lòng nặng trĩu mà cũng sáng ra một điều.
Về đến nhà, hai ông bà mời các nhà sư đến làm những lễ chay lớn. Họ mở kho phát gạo, phát tiền, phát áo cho kẻ nghèo khó. Tiếng mõ tiếng chuông vang mãi trong ngôi nhà giàu nhất vùng. Người nghèo kéo đến đông như hội. Cứ thế, từng rương bạc, từng kho thóc vơi dần rồi cạn hẳn. Đến khi của cải đã tiêu hết, hai ông bà lại khăn gói ra Quảng Yên, chờ phiên chợ Mành Mành năm sau, mong gặp con một lần nữa và theo con xuống xem tội mình đã được xoá chưa.
Đến ngày chợ họp, hai ông bà lại gặp con gái giữa làn sương. Lần này cô Xuân tươi cười đón cha mẹ. Chưa kịp để cha mẹ hỏi gì, cô đã nói: "Cha mẹ ơi, tội lỗi của cha mẹ đã được xoá rồi. Cha mẹ không cần xuống dưới ấy nữa đâu." Hai ông bà mừng đến rơi nước mắt. Người ta kể lại chuyện này để nhắc nhau rằng của cải làm ra bằng nước mắt người khác thì chẳng giữ được lâu, còn lòng biết hối và biết cho đi thì cõi âm cũng phải ghi nhận.