Về kệ Người lớn

Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều

Khoảng 8 phút · 10 cảnh

Sau binh lửa cuối đời Trần, huyện Đông Triều bị một lũ trộm vô hình quấy phá, bùa phép hay cầu Phật đều vô hiệu. Một người thợ săn bị mời nhầm làm thầy pháp, nửa đêm bỏ trốn, lại tình cờ bắt quả tang thủ phạm là hai pho tượng Hộ pháp trong ngôi chùa đổ. Truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ, kể lại mới.

Cốt truyện theo: Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ, thế kỷ 16)

Đời nhà Trần, người ta rất tin thần Phật. Đền miếu, chùa chiền dựng lên khắp nơi, người cắt tóc đi tu nhiều gần bằng nửa dân thường. Nhất là ở huyện Đông Triều, làng lớn có hơn mười ngôi chùa, làng nhỏ cũng năm sáu ngôi, ngoài đắp luỹ, trong sơn son thếp vàng. Ai ốm đau cũng chỉ trông vào lễ bái. Gặp ngày tuần tiết, đàn tràng cúng vái rộn rịp suốt ngày đêm. Mà thần Phật hình như cũng linh ứng, cầu gì được nấy, nên dân càng kính sợ, chẳng ai dám coi thường.

Đến đời vua Giản Định, chiến tranh liên miên, chùa chiền bị đốt phá gần hết. Mười ngôi chẳng còn một, mà ngôi nào còn lại thì cũng mưa dột gió lùa, xiêu vẹo giữa đám cỏ hoang. Khi quân giặc rút, dân trở về làm ăn. Có viên quan tên Văn Tư Lập về làm tri huyện. Thấy cảnh đổ nát, ông bảo dân các xã chặt tre cắt tranh, sửa sang lại ít nhiều. Ông là người hiền, chỉ mong dân yên ổn làm ăn sau những năm loạn lạc.

Ông làm quan được một năm thì dân trong huyện khổ vì nạn trộm. Gà lợn, ngỗng vịt, cá dưới ao, quả trong vườn, hễ thứ gì ăn được là mất sạch. Văn Tư Lập tự trách: "Ta làm quan mà không đủ sáng để xét kẻ gian, không đủ cứng để trị kẻ ác, ấy là lỗi của ta." Ông ra lệnh cho các thôn đêm đêm canh phòng cẩn mật. Canh mãi chẳng thấy bóng ai, mà trộm vẫn mất như thường. Dần dần lũ trộm càng táo tợn, vào bếp khoắng hũ rượu, vào buồng trêu ghẹo đàn bà. Người ta xúm lại vây bắt thì chúng biến mất, chẳng thấy hình dạng gì.

Văn Tư Lập cười: "Té ra bấy lâu ta ngờ oan cho kẻ trộm. Đây là ma quỷ quấy phá." Ông mời khắp các thầy phù thuỷ cao tay về trấn yểm, nhưng càng yểm, chúng càng quấy dữ. Ông sợ lắm, họp dân lại bàn: "Xưa các người thờ Phật kính cẩn, nay vì loạn lạc mà hương khói bỏ bê, nên yêu quái mới hoành hành. Sao không đến chùa cầu Phật?" Dân bèn đến các chùa đổ nát thắp hương khấn: "Ma quỷ quấy nhiễu, sao Phật ngồi nhìn? Xin ra uy trừng trị. Nay dân còn nghèo, đợi làm ăn khá lên sẽ xin sửa chùa đền công đức." Đêm ấy, trộm cắp lại hoành hành dữ hơn trước.

Hết cách, Văn Tư Lập nghe nói ở huyện Kim Thành có ông Vương tiên sinh bói Dịch rất giỏi, liền tìm đến xin một quẻ. Vương tiên sinh gieo quẻ rồi đọc: "Cưỡi trên ngựa tốt, mặc áo vải thô, túi da tên thiếc, chính là người thần." Rồi dặn: "Sáng mai, ông ra cửa huyện phía bên trái, đi về hướng nam. Hễ gặp người ăn mặc, mang xách đúng như thế thì đó là người trừ được hoạ. Nên cố mời, dù người ấy chối từ cũng đừng nghe."

Hôm sau, quan huyện cùng các bô lão ra đường ngóng đợi. Người qua kẻ lại tấp nập, chẳng ai giống như lời quẻ. Trời đã xế chiều, ai nấy chán nản định về, chợt có một người từ trong núi đi ra, mặc áo vải, đeo cung tên, cưỡi ngựa tốt. Mọi người ùa ra phục lạy trước mặt. Người ấy ngạc nhiên, nghe kể xong thì bật cười: "Các ông tin bói quá đỗi! Tôi làm nghề săn từ nhỏ, chẳng rời yên ngựa, chẳng rời cung tên. Nghe núi An Phụ có nhiều nai béo thỏ tốt nên định đến săn, chứ lập đàn bắt quỷ là việc gì, tôi nào có biết."

Văn Tư Lập cho rằng đây hẳn là bậc cao tay giấu nghề, càng cố nài. Người thợ săn không chối được, đành theo về. Quan huyện cho ở quán khách, giường chiếu màn đệm sang trọng, hầu hạ kính cẩn như thần. Người thợ săn nghĩ thầm: "Họ trọng ta vì tưởng ta trừ được quỷ. Ta có tài gì đâu mà hưởng sự cung phụng này. Không trốn sớm thì có ngày bẽ mặt." Nửa đêm, chờ mọi người ngủ say, anh rón rén ra khỏi huyện. Đến phía tây cây cầu ván, trời tối mịt, trăng chưa mọc, anh thấy mấy bóng người to lớn lạ thường, hớn hở từ dưới đồng đi lên. Anh vội nấp vào chỗ khuất mà rình.

Lũ người ấy thò tay khoắng xuống ao, vớ được cá lớn cá nhỏ đều nhét vào miệng nhai ngấu nghiến, rồi nhìn nhau cười: "Cá con ngon thật, ăn dè dặt mới thấy thú. Hơn hẳn mấy thứ hương hoa nhạt nhẽo người ta cúng. Tiếc là giờ mới biết." Một kẻ nói: "Chúng mình to đầu mà dại, bao lâu bị người đời lừa, đem vài nắm xôi oản lấp cái bụng nặng nghìn cân mà bắt đứng giữ cửa cho chúng." Kẻ khác bảo: "Ta xưa nay vẫn ăn mặn, nhưng dân nghèo, chẳng có gì cúng, lâu lắm chưa biết mùi thịt. Đêm nay nước lạnh, chi bằng lên vườn mía mà ăn cho đã."

Chúng kéo nhau vào vườn mía, nhổ trộm mà tước, mà hít. Người thợ săn giương cung, bất thình lình bắn ra, trúng luôn hai đứa. Bọn chúng kêu ú ớ mấy tiếng rồi chạy tán loạn, được vài chục bước thì mất hút. Còn nghe tiếng chúng mắng nhau: "Đã bảo ngày xấu thì đừng đi, không nghe, giờ mới biết." Người thợ săn hô hoán ầm lên. Dân làng giật mình thức dậy, đốt đuốc chia nhau đuổi theo. Họ soi thấy vết máu vấy trên mặt đất, lần theo về phía tây, hơn nửa dặm thì đến một ngôi chùa hoang. Trong chùa có hai pho tượng Hộ pháp xiêu vẹo, trên lưng mỗi pho cắm một mũi tên ngập sâu.

Ai nấy lắc đầu lè lưỡi, cho là chuyện lạ chưa từng có, rồi xô đổ hai pho tượng. Lúc ấy còn nghe tiếng than: "Tưởng kiếm bữa no, ai ngờ nát thân. Bày ra mưu này là lão Thuỷ thần. Hắn cầm đầu mà thoát, chúng ta theo hắn lại chịu vạ." Dân làng kéo đến miếu Thuỷ thần, thấy pho tượng đất mặt tái xanh như chàm đổ, trên mép còn dính lèm nhèm mấy cái vảy cá, liền phá luôn pho tượng ấy. Quan huyện Văn Tư Lập dốc hết hòm rương trả ơn người thợ săn, anh chở nặng mà về. Từ đó yêu tà tuyệt tích. Người xưa bàn rằng: thờ cúng mà mê muội, có khi lại nuôi chính cái hoạ cho mình.