Ngô Tử Văn tên thật là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Chàng là người khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể làm ngơ. Ở vùng Bắc, người ta vẫn khen chàng là người cương trực. Trong làng có một ngôi đền thờ thổ thần. Từ khi giặc Minh sang chiếm nước ta, một viên tướng giặc tử trận gần đó, hồn hắn ở lại, chiếm luôn ngôi đền, rồi tác yêu tác quái trong dân gian. Nhà nào trong làng cũng bị quấy nhiễu, người ta đành sắm lễ cúng bái mà không yên.
Tử Văn rất tức giận. Một hôm, chàng tắm gội sạch sẽ, khấn trời đất, rồi châm lửa đốt ngôi đền. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, lo sợ thay cho chàng, nhưng chàng vẫn vung tay không chút sợ hãi. Đền cháy rụi. Về đến nhà, Tử Văn thấy trong người khó chịu, đầu nặng chân nhẹ, rồi lên cơn sốt. Ngay trong cơn sốt, chàng thấy một người cao lớn, khôi ngô, nói giọng phương bắc, đến đòi chàng dựng trả lại ngôi đền.
Người ấy quát: Ngươi là kẻ học trò, sao dám khinh nhờn ta, đốt đền của ta? Nếu ngươi biết điều, dựng lại ngôi đền như cũ thì ta bỏ qua. Bằng không, ta sẽ kiện ngươi xuống Minh ti, khi ấy ngươi có hối cũng không kịp. Tử Văn vẫn ngồi ngất ngưởng tự nhiên, không đáp một lời. Người kia giận dữ phất áo bỏ đi, vừa đi vừa nói: Rồi ngươi sẽ biết tay ta.
Chiều hôm ấy, lại có một ông già áo vải trắng, đầu đội mũ, dáng điệu khoan thai, đến tìm chàng. Ông nói: Ta là thổ thần nơi đây, vốn là một bề tôi của Lý Nam Đế, bị tên tướng giặc kia cướp mất đền đã mấy năm nay. Nó hung bạo, lại khéo đút lót, nên chẳng ai làm gì được nó. Nay nhờ nhà ngươi đốt đền, lòng ta rất hả. Nhưng nó đã đi kiện, lại có đường đi lối lại dưới âm phủ. Ta biết ngươi sắp bị bắt xuống Minh ti, nên đến dặn trước.
Thổ thần dặn: Xuống dưới ấy, nếu bị tra hỏi, ngươi cứ khăng khăng giữ lấy lẽ phải mà nói, đừng chịu khuất. Nếu thấy việc không xong, hãy xin đưa giấy tờ lên đền Tản Viên mà hỏi, ở đó có Sơn Thánh, ắt sẽ rõ thực hư. Ta không thể ra mặt lúc này, vì bị nó chèn ép đã lâu. Nói xong, ông già biến mất. Đêm ấy, bệnh của Tử Văn trở nặng. Chàng thấy có hai quỷ sứ đến, lôi chàng đi, tới bờ một con sông lớn, nước đen ngòm, mùi tanh nồng nặc.
Qua cầu, đến một tòa cung điện nguy nga, có thành sắt cao vòi vọi. Quỷ sứ dẫn Tử Văn vào. Trên điện, một vị vua đội mũ miện, mặt mày uy nghiêm ngồi trên sập cao, hai bên tả hữu quan lại đứng chầu. Đã thấy tên tướng giặc mặc áo giáp, đứng chờ sẵn. Vua quát hỏi: Ngươi là kẻ học trò, sao dám đốt đền của người khác, tội ấy đáng gì? Tên tướng giặc đứng một bên kể tội Tử Văn, lời lẽ trơn tru như có người dạy sẵn.
Tử Văn không chút nao núng, ngẩng đầu tâu: Kẻ kia vốn là tướng giặc phương bắc, sang xâm lược nước ta, chết ở đất này, lại cướp đền của thổ thần, làm hại dân lành. Đốt đền ấy là trừ cái ác cho dân, sao lại gọi là tội? Nếu bệ hạ chưa tin, xin cho đưa giấy tờ lên đền Tản Viên mà hỏi Sơn Thánh, khắc rõ ai ngay ai gian. Tên tướng giặc nghe nhắc tới đền Tản Viên thì mặt biến sắc, vội tâu xin thôi không cần hỏi nữa.
Thấy vậy, vua sinh nghi, sai người lên đền Tản Viên hỏi. Chẳng bao lâu, người đi đã trở về, mang theo lời Sơn Thánh, kể rõ đầu đuôi: hồn tướng giặc đã cướp đền của thổ thần, lại đút lót cho kẻ dưới, dựng chuyện vu cáo người ngay. Vua cả giận, quát: Ngươi làm tướng giặc thì xâm lăng nước người, chết rồi còn cướp đền, còn dối trá trước điện ta. Liền sai giam tên tướng giặc vào ngục Cửu U, mãi mãi không được ra. Rồi vua cho Tử Văn trở về dương gian, lại sai người đưa thổ thần trở về đền cũ.
Tử Văn bừng tỉnh, thì ra mình đã chết đi hai ngày, người nhà đang khóc lóc bên giường. Chàng kể lại đầu đuôi, ai nghe cũng sửng sốt. Người làng góp sức dựng lại ngôi đền, rước thổ thần về thờ như xưa. Ít lâu sau, thổ thần lại đến, cảm tạ chàng: Nhờ ơn ngươi mà ta được trở về chốn cũ. Đền Tản Viên đang thiếu một chức phán sự, ta đã tiến cử ngươi. Ngươi hãy thu xếp việc nhà mà đi nhận chức. Làm người không chết thì cũng có lúc phải chết, được làm quan ở đó còn hơn ở chốn trần ai.
Tử Văn nhận lời, thu xếp việc nhà. Hơn một tháng sau, chàng không bệnh mà mất. Người làng tin rằng chàng đã lên nhận chức phán sự ở đền Tản Viên. Về sau, có người quen cũ ở Yên Dũng đi qua vùng núi Tản, lúc trời mờ sáng, thấy trong làn sương có xe ngựa, cờ quạt rộn ràng, người ngồi trên xe chính là Tử Văn, áo mũ chỉnh tề. Chàng vẫy tay chào, nhờ chuyển lời thăm hỏi vợ con, rồi xe ngựa khuất dần trong mây núi. Từ đó, người đời càng tin rằng kẻ chính trực, dẫu ở cõi nào cũng được trọng dụng.