Đời nhà Trần, có một chàng lái buôn người Bắc Hà tên là Trình Trung Ngộ. Chàng trẻ tuổi, mặt mũi khôi ngô, nhà lại giàu, quanh năm chở hàng xuôi ngược, thường dừng thuyền buôn bán ở chợ Nam Xang. Mỗi lần tới đó, chàng thuê nhà trọ ở gần bến, ngày đi chợ, đêm thong thả dạo chơi. Gần chợ có một xóm nhỏ, bên kia xóm là một ngôi chùa cũ ven sông, sân chùa có cây gạo cổ thụ cao vút, mùa xuân hoa đỏ rực như lửa.
Một đêm xuân trăng sáng, Trung Ngộ đi dạo về phía xóm, bỗng thấy một người con gái đi một mình bên bờ sông. Nàng chừng mười tám tuổi, tóc dài, da trắng như ngà, dáng đi nhẹ như không chạm đất. Chàng đi theo, buông lời hỏi han. Nàng quay lại, mỉm cười buồn mà đáp: Thiếp tên là Nhị Khanh, cháu một nhà quyền quý ở làng phía đông. Cha mẹ mất sớm, chồng lại bỏ đi, thiếp phải ra ở một mình ngoài xóm, đêm buồn nên đi dạo thế thôi.
Trung Ngộ say đắm ngay từ phút đầu. Đêm ấy chàng mời nàng xuống thuyền, hai người trò chuyện tới khuya. Nàng biết làm thơ, ngâm cho chàng nghe những câu buồn như tiếng gió. Gà gáy sáng, nàng vội vã đứng dậy ra về, không cho chàng tiễn. Từ đó, đêm nào nàng cũng tới, sáng nào nàng cũng đi, đều đặn như trăng lên trăng lặn, hơn một tháng trời. Trung Ngộ chẳng còn để tâm tới việc buôn bán, ngày ngồi ngẩn ngơ, chỉ mong trời mau tối.
Bạn buôn của Trung Ngộ thấy chàng ngày càng gầy rộc, mặt xanh như tàu lá, lấy làm lo. Họ bảo nhau: Người con gái nào lại chỉ đi đêm, sáng ra đã biến mất, không ai trong chợ biết mặt. Chuyện này chẳng lành. Họ khuyên chàng dứt bỏ đi. Trung Ngộ không tin, nhưng trong lòng cũng gợn lên một chút ngờ vực. Đêm ấy, chàng nói với nàng: Ta với nàng đã thân thiết thế này, sao nàng chưa một lần cho ta tới nhà. Nàng ngập ngừng hồi lâu, rồi khẽ gật đầu.
Nàng dẫn chàng đi qua bãi cỏ, tới một túp lều tranh xiêu vẹo nằm lẻ loi bên rìa xóm. Cửa lều vừa mở, một mùi hôi lạnh xộc ra. Trong ánh trăng lọt qua mái thủng, Trung Ngộ thấy giữa lều đặt một cỗ quan tài phủ bụi. Chàng rụng rời chân tay, quay người bỏ chạy. Nàng níu áo chàng lại, giọng tha thiết: Chàng ơi, đừng đi. Nhưng Trung Ngộ đã giằng ra, chạy một mạch về nhà trọ, không dám ngoái lại. Hỏi người trong xóm, chàng mới biết Nhị Khanh đã chết từ nửa năm trước, quan tài còn để tạm chưa chôn.
Từ đêm ấy, Trung Ngộ lâm bệnh nặng. Nhưng bóng nàng vẫn không buông tha. Đêm nào nàng cũng hiện ra bên song cửa, gọi tên chàng, giọng ai oán như khóc. Chàng nghe tiếng gọi thì trong lòng lại xao xuyến, quên cả sợ hãi, cứ đòi chạy theo. Bạn bè thấy vậy, đành lấy dây trói chàng vào giường, thay nhau canh giữ. Mấy đêm liền, Trung Ngộ vật vã, khi mê khi tỉnh, miệng không thôi gọi tên Nhị Khanh.
Một đêm, bạn bè canh mệt, ngủ thiếp đi. Trung Ngộ cựa mãi, dây trói lỏng ra. Chàng lặng lẽ ra khỏi nhà, theo tiếng gọi mà đi. Sáng hôm sau, mọi người hốt hoảng đi tìm, tới túp lều bên xóm thì thấy chàng đã chết, nằm ôm lấy cỗ quan tài của Nhị Khanh. Gương mặt chàng trắng bệch mà thanh thản lạ thường. Người làng thương xót, đem chôn chàng cạnh mộ nàng, tưởng rằng thế là xong một mối oan tình.
Nào ngờ, từ đó trong vùng sinh ra chuyện lạ. Những đêm mưa gió, người ta thấy một đôi trai gái dắt tay nhau đi ngoài bãi, khi cười khi hát, ai gặp phải thì về ốm nặng. Họ lại đòi cúng bái, không cúng thì làm loạn cả xóm. Dân làng sợ quá, bèn đào cả hai ngôi mộ lên, ném hài cốt xuống sông cho trôi đi. Nhưng đôi hồn ma vẫn không tan. Chúng nương vào cây gạo cổ thụ bên ngôi chùa ven sông, thành yêu quái, ban đêm thường hiện ra quấy nhiễu, hại người qua lại.
Nhiều năm sau, có một vị đạo sĩ đi ngang qua ngôi chùa. Trời vừa chạng vạng, ông thấy dưới gốc cây gạo có hai bóng người lõa lồ đang đùa giỡn, vừa thấy người thì biến mất vào thân cây. Ông hỏi dân làng, nghe kể hết đầu đuôi, thì thở dài mà rằng: Lũ yêu này không trừ, còn hại người mãi. Rồi ông bảo dân lập một đàn tế ngay trước cây gạo, sắm hương đèn, giấy bút, để ông làm phép.
Đêm ấy, đạo sĩ đứng trên đàn, tay cầm kiếm gỗ đào, miệng đọc thần chú, viết bùa đốt lên. Bỗng trời tối sầm, gió nổi ầm ầm, sấm sét vang rền. Cây gạo cổ thụ bị nhổ bật cả rễ, thân cây tan nát. Giữa luồng gió xoáy, người ta thấy mấy tên lính quỷ đầu trâu hiện ra, xiềng lấy hai hồn ma mà giải đi mất. Sáng ra, trời quang mây tạnh. Dân làng đem vàng bạc tới tạ ơn, nhưng đạo sĩ lắc đầu không nhận, phất trần mà đi. Từ đó, quanh vùng yên ổn. Chuyện kể lại như lời răn về những cuộc tình mê muội, quên hết lẽ phải.