Ngoài thành Tây Đô, có hai người đàn bà mở hai cửa hàng phấn sáp đối diện nhau. Một là Nguyễn Thị Diễm, người họ lớn ở Đông Sơn, em họ ngoại của tướng Trần Khát Chân. Một là bà họ Lý, quê ở Cẩm Giàng. Hàng xóm gần gũi, tình nghĩa ngày một thân, nhưng cả hai đều chưa có con. Một hôm, hai bà cùng đến động Hồ Công cầu tự. Bà Lý nói: “Chúng ta thân nhau, hôm nay lại cùng đi cầu con. Nếu trời cho, sau này ta gả các con cho nhau. Dân thường lấy dân thường, chẳng cần kén con ông cháu cha. Có thần núi chứng giám, tôi quyết không sai lời.” Ít lâu sau, bà Nguyễn sinh con gái, đặt tên là Lệ Nương. Bà Lý sinh con trai, đặt tên là Phật Sinh.
Hai đứa trẻ lớn lên cạnh nhau, cùng mê bút mực. Vì cha mẹ hai bên thân thiết, chúng qua lại với nhau tự nhiên như người trong nhà, thường cùng nhau làm thơ, họa thơ. Lệ Nương viết một câu, Phật Sinh nối một câu. Phật Sinh ngâm một bài, Lệ Nương họa lại một bài. Tuy ngày cưới chưa định, nhưng tình hai người đã gắn bó chẳng khác gì vợ chồng. Hàng xóm nhìn đôi trẻ, ai cũng mừng thay cho hai bà mẹ, vì lời hứa năm xưa ở động Hồ Công sắp thành sự thật.
Năm Kỷ Mão đời Trần, Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Ly không thành, cả họ hàng bị liên lụy. Lệ Nương bị bắt vào trong cung. Phật Sinh đau đớn tuyệt vọng. Đêm trừ tịch năm ấy, gần hết canh năm, chàng đang nằm thì nghe tiếng ầm ì ngoài ngõ. Mở cửa ra, chàng thấy hơn trăm chiếc kiệu hoa rậm rịch đi qua, và trên ngưỡng cửa cài một bức thư bằng lụa, đúng nét chữ của Lệ Nương. Thư viết: trời có âm dương mới đủ, người có vợ chồng mới thành, sao duyên đôi ta lại lỡ làng đến thế; thiếp bị giam trong cung, xuân trong viện đành khóa lại; xin chàng giữ gìn thân mình, tìm người khác mà kết duyên, đừng vì tình một buổi mà lỡ cả trăm năm.
Đọc thư, Phật Sinh đau xót, bỏ cả ăn ngủ. Hôn sự đã hỏng, chàng dời ra sống ở miền đông. Nhưng lòng vẫn nặng tình với Lệ Nương, chàng chưa nỡ lấy ai. Năm tháng qua đi, nhà Hồ lên ngôi rồi lại nghiêng ngả. Cuối đời nhà Hồ, tướng Minh là Trương Phụ dẫn quân sang xâm lược, chiếm cả kinh thành. Phật Sinh nghe tin Hồ Hán Thương bỏ chạy, đoán chắc Lệ Nương cũng phải theo đoàn người trong cung. Chàng từ biệt mẹ, khăn gói vào phương nam, mong tìm được nàng giữa cảnh loạn ly.
Lặn lội hàng tuần, Phật Sinh đến cửa biển Thần Phù. Chàng nghe tướng giặc Lã Nghị bắt mấy trăm phụ nữ, đang đóng giữ phủ Thiên Trường, không có quân cứu viện. Chàng đoán Lệ Nương ở trong đó, nhưng tay không giữa đất khách, chẳng làm gì được. Vừa lúc ấy vua Giản Định nhà Hậu Trần dấy quân ở Trường An, nhưng quân ít, chưa địch nổi giặc. Phật Sinh muốn mượn thế quân vua mà cứu người yêu, bèn đến trước ngựa dâng một bài sách. Chàng bày kế: triệu Đặng Tất ở Diễn Châu, thủy quân tiến thẳng Bình Than, bộ binh đánh nhanh Hàm Tử, chẹn đường lương của giặc ở Bạch Hạc, đóng cọc chặn lối chạy ở bến sông, ngày đánh trống, đêm đốt lửa báo hiệu, đánh cho giặc không kịp trở tay.
Vua Giản Định đọc xong, khen là người giỏi, cấp cho năm trăm quân, sai đi đánh phủ Thiên Trường. Phật Sinh khảng khái thề với quân sĩ, nói về nghiệp lớn khôi phục nhà Trần, ai nấy đều hăng hái. Đêm ấy, nhân lúc thủy triều lên, chàng cho quân tiến đánh. Lã Nghị quả nhiên phải nhổ trại bỏ chạy, lui lên phía bắc đóng ở Xương Giang. Chàng đuổi theo, phá thêm một trận, giặc lại phải lui lên trạm Bắc Nga ở Lạng Sơn. Phật Sinh đóng quân chặn ở cửa Quỷ Môn, lần lượt chở lương thực đến. Người học trò yếu đuối năm nào giờ đã thành một vị tướng, chỉ vì một lời hẹn ước.
Bỗng có chiếu thư từ Yên Kinh ban xuống, Trương Phụ đốc thúc các cánh quân sắp rút về nước. Phật Sinh vốn đến đây vì tìm vợ, chẳng phải để lập công, nghe tin giặc sắp rút thì từ biệt các tướng sĩ, một mình tìm đến trạm Bắc Nga vào lúc chiều tối. Trạm vắng tanh, không một bóng người. Chàng gặp một bà lão, bà cau mày: “Đây là chỗ quân giặc vừa đóng, còn đầy sát khí, trời lại tối, sao chàng còn chưa tìm chỗ trọ?” Phật Sinh rầu rĩ kể hết sự tình. Bà lão thở dài: “Tội nghiệp. Quả có người họ tên và tuổi như chàng nói, nhưng chẳng may đã chết oan rồi.”
Bà lão kể: “Năm hôm trước, khi quân Tàu sắp rút, người đàn bà họ Nguyễn ấy nói với hai bà phu nhân họ Chu, họ Trịnh: Chúng ta thân mềm như liễu, mệnh mỏng như vôi, nước mất nhà tan. Nay theo họ qua cửa ải là đến đất người. Thà chết ở ngòi lạch gần quê, còn hơn làm hồn cô quạnh nơi đất Bắc. Thế rồi cả ba cùng tự vẫn. Tướng giặc cảm phục khí tiết, cho chôn cất trong rừng.” Bà dẫn chàng đến, chỉ từng nấm mộ: “Trinh liệt như thế chỉ có ba người này, còn bao người khác đều bị làm nhục cả.” Phật Sinh quỳ xuống, đau đớn khôn cùng.
Đêm ấy, chàng ngủ lại bên mộ, khóc mà khấn: “Anh vì em lặn lội từ xa đến đây. Em có thể về trong giấc mộng cho anh một lời an ủi không?” Đến canh ba, quả thấy Lệ Nương lững thững bước tới, vừa khóc vừa kể: “Thiếp phận tầm thường, được chàng thương yêu. Duyên chưa thành mà thân đã mỏng manh. Bị giam nơi lầu son, tin tức chẳng thông. Rồi giặc tràn sang, cung điện tan tành. Thiếp đã không giữ được trọn tiết theo chồng, lẽ nào lại cam lòng theo giặc. Ép duyên với phường lang sói thì không đành, qua ải xa quê thì không nỡ. Vì thế thiếp chẳng tham sống nữa. Nay linh hồn còn đây, mà thân xưa đã khác. Cảm lòng chàng tìm đến, biết nói sao cho hết.”
Hai người chuyện trò âu yếm như lúc còn sống. Phật Sinh nói: “Em đã không may, anh xin đưa hài cốt em về quê, kẻo uổng một chuyến đi.” Lệ Nương đáp: “Thiếp cảm tấm lòng chàng lắm. Nhưng thiếp với hai vị phu nhân gần gũi đã lâu, không nỡ một sớm bỏ đi. Vả nơi đây non nước trong lành, hồn thiếp đã yên, chẳng phiền chàng dời đi nữa.” Gà gáy ba hồi, hai người vội đứng dậy từ biệt. Hôm sau, Phật Sinh đem mấy lạng bạc mua quan tài, nước thơm, cải táng tử tế cho Lệ Nương và hai vị phu nhân. Đêm sau, chàng mơ thấy cả ba người đến tạ ơn. Chàng vừa định cất lời thì cả ba đã biến mất.
Phật Sinh buồn bã trở về, từ đó trọn đời không lấy vợ. Về sau, khi Lê Thái Tổ dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, chàng mang mối hận cũ ra ứng mộ, gặp quân Minh ở đâu là đánh không nương tay. Khi nghĩa quân quét sạch giặc Minh, chàng có nhiều công lớn. Người xưa bàn rằng: giữ lời hứa là điều đáng quý, nhưng phải hợp lẽ phải. Vì tình mà đi tìm thì nên, liều chết mà đi tìm thì chưa nên. Huống chi vì một lời ước mà không lấy vợ, để dòng họ không người nối dõi. Người quân tử cần biết lúc nào nên giữ, lúc nào nên đổi. Dẫu vậy, tấm lòng chung thủy của Phật Sinh và khí tiết của Lệ Nương vẫn khiến bao đời người đọc phải ngậm ngùi.