Ngày xưa có ba người lính cùng ở một đạo quân: một người xứ Scotland, một người xứ Anh và một người xứ Ireland. Cả ba bàn nhau hễ có dịp là bỏ trốn, và dịp ấy đã đến. Họ đi suốt hai ngày qua một khu rừng lớn, không cơm không nước, không gặp lấy một mái nhà. Đêm nào cũng phải trèo lên cây mà ngủ, vì sợ thú dữ trong rừng. Sáng ngày thứ hai, từ ngọn cây, anh lính Scotland trông thấy một tòa lâu đài ở rất xa. Anh nghĩ: Ở lại đây gặm rễ cỏ thì chết đói mất. Thế rồi anh tụt xuống và đi thẳng về phía lâu đài, chẳng nói với hai bạn một lời. Có lẽ đói khát đã làm lòng người đổi khác, đến nỗi ai chỉ còn lo cho thân mình.
Chiều muộn anh lính Scotland mới tới nơi, nhưng cửa nào cũng đóng, ống khói nào cũng lạnh tanh. Anh nằm xuống bên chân tường, nghĩ phen này đằng nào cũng chết. Bỗng một khung cửa sổ trên cao mở ra, và anh thấy người đàn bà đẹp nhất đời mình. Nàng hỏi anh cần gì. Anh đáp: Tôi sắp chết vì đói khát. Nàng mời anh vào, dọn cho anh ăn uống no nê, rồi dẫn anh tới một gian phòng lớn có rất nhiều đàn ông đang nằm ngủ say. Anh nằm xuống một chiếc giường và ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau, anh lính Anh trèo lên đúng cái cây ấy, cũng thấy lâu đài, cũng lặng lẽ bỏ đi, và mọi chuyện xảy ra với anh y hệt như vậy.
Chàng lính Ireland còn lại một mình, buồn bã chẳng biết hai bạn đi đâu. Đêm đến, chàng trèo lên cái cây hôm trước, và sáng ra cũng thấy tòa lâu đài. Nàng công chúa mời chàng vào, bày ra những món ăn chàng chưa thấy bao giờ. Căn phòng có chiếc giường treo nhẫn kim cương ở từng vòng rèm, đẹp đến nỗi chàng quên cả đói. Thấy chàng không ăn, nàng hỏi chàng còn muốn gì nữa. Chàng đáp: Tôi sẽ không ăn không uống, chừng nào chưa biết cô là ai, từ đâu tới, và ai đã đưa cô vào đây.
Nàng nói: Ta là một công chúa bị yểm bùa. Cha ta hứa ai giải được bùa cho ta thì được một phần ba vương quốc lúc ông còn sống, cả vương quốc khi ông mất, và được cưới ta. Ta ở đây đã mười sáu năm, chưa một ai đến lâu đài mà hỏi ta là ai, chỉ trừ chàng. Mọi kẻ khác đều đang nằm ngủ trong gian phòng lớn dưới kia. Chàng hỏi cách nào giải được bùa. Nàng đáp: Có một căn phòng nhỏ đằng kia. Nếu có người chịu ở trong ấy từ mười giờ đến nửa đêm, ba đêm liền, thì ta sẽ được tự do. Chàng lính nói ngay: Vậy tôi là người cô cần, tôi xin nhận việc ấy.
Nàng đưa cho chàng tẩu và thuốc, rồi chàng vào căn phòng nhỏ. Chẳng bao lâu, có tiếng đập cửa rầm rầm, bắt chàng mở ra. Chàng đáp: Không mở. Lập tức cánh cửa bay vào, cùng với cả đám người bên ngoài. Chúng quật chàng xuống, đá chàng, quỳ lên người chàng cho tới nửa đêm, nhưng gà vừa gáy thì chúng biến mất. Sáng ra, công chúa thấy chàng nằm sóng soài, không nói nổi một lời. Nàng lấy một cái chai, xoa thuốc khắp người chàng, và chàng lại lành lặn như xưa. Đêm thứ hai, bọn chúng đông gấp ba, tung chàng lên tận trần nhà cho tới khi gà gáy. Đêm thứ ba lại đông gấp ba nữa. Sáng hôm ấy chàng nằm như người chết, nàng phải bắt mạch mới thấy còn thoi thóp. Nàng đổ hết thuốc trong chai lên người chàng, chàng đứng dậy khỏe như thường, và lời yểm được giải.
Công chúa bảo chàng rằng nàng phải đi một thời gian, vài hôm nữa sẽ quay lại đón chàng bằng cỗ xe bốn ngựa xám. Chàng chưa kịp níu, nàng đã biến mất, chỉ để lại một cây gậy nhỏ để đánh thức những người đang ngủ. Rồi một cậu bé tóc vàng xuất hiện, nói rằng cậu được bà chủ sai tới hầu chàng, và sáng mai chín giờ nàng sẽ đến. Sáng hôm sau, chàng ra vườn đợi. Nhưng cậu bé lén cắm một cây kim to vào lưng áo chàng, và chàng lăn ra ngủ say. Công chúa đến, hỏi chủ cậu đã dậy chưa. Cậu đáp chưa. Nàng nói: Mai mà chàng không gặp ta đúng giờ này, e rằng cả đời chẳng còn thấy ta nữa. Hôm sau lại y như thế. Lần này nàng buồn bã để lại một thanh gươm cùng lời chúc phúc, rồi đi hẳn. Cậu bé rút kim ra, chàng tỉnh dậy, giận đến muốn đánh cậu, nhưng ngoảnh lại thì cậu bé đã không còn dấu vết.
Còn lại một mình, chàng vào gian phòng lớn, và giữa những người đang ngủ, chàng nhận ra hai người bạn đã bỏ mình mà đi. Nhớ lời công chúa, chàng chạm cây gậy vào họ trước tiên. Họ bật dậy, và chàng cho họ vàng bạc mang được bao nhiêu thì mang. Chàng còn bận rộn cả ngày đánh thức những người khác, có người đã ngủ tới mười sáu năm, hai cửa lâu đài đông nghẹt người ra về. Nhưng nỗi mất nàng công chúa cứ day dứt chàng ngày đêm. Chàng bèn lấy con ngựa tốt nhất trong chuồng, lên đường đi khắp thế gian hỏi tin nàng.
Ba năm ròng chàng đi qua rừng rậm và đồng hoang, không ai nói được gì về nàng. Cuối cùng chàng tuyệt vọng đến mức muốn tự kết liễu đời mình bằng chính thanh gươm nàng để lại. Nhưng vừa rút gươm khỏi vỏ, chàng thấy một bên lưỡi có khắc chữ: Chàng sẽ tìm thấy ta ở dãy núi xanh. Chàng lấy lại can đảm, bỏ ý định kia, quyết đi tiếp cho tới khi gặp người chỉ được đường tới dãy núi xanh.
Một đêm, chàng thấy ánh đèn của một túp nhà nhỏ. Ông già trong nhà bảo: Ta sống ở đây ba trăm năm, chưa thấy một con người nào ngoài cậu. Ông có cuốn sách chép lịch sử thế gian, thức trắng đêm lật tìm, nhưng không có một chữ nào về dãy núi xanh. Ông bảo: Ta có người anh sống cách đây chín trăm dặm. Ông thổi còi một tiếng, và chưa tối chàng đã đứng trước cửa nhà người anh. Người anh cũng ba trăm năm không gặp ai, cũng thức đêm lật sách, cũng chẳng tìm ra. Ông lại thổi còi đưa chàng tới người em thứ ba. Ông già thứ ba nói: Ta chưa nghe tên ấy bao giờ, nhưng ta là chúa của mọi loài chim trên thế gian.
Ông thổi còi, và chim muông khắp thế gian kéo về. Ông hỏi từng con đến từ đâu, nhưng không con nào đến từ dãy núi xanh. Chỉ thiếu một con đại bàng lớn. Lát sau có vật gì khổng lồ bay tới, che tối cả bầu trời. Ông mắng nó đến muộn. Đại bàng đáp: Tôi phải bay xa gấp hai mươi lần mọi con chim khác, tôi từ dãy núi xanh về. Ở đó người ta đang sửa soạn đám cưới cho con gái vua dãy núi xanh. Ba năm nay nàng chối từ mọi người, chờ người đã giải bùa cho nàng. Nay hết hạn ba năm đã hứa với vua cha, nàng không thể chờ thêm. Chàng lính biết nàng chờ chính mình, nhưng làm sao tới được đó.
Ông già hỏi đại bàng muốn gì để chở chàng đi. Nó đáp: Phải giết sáu mươi con bò, chặt thành từng phần tư, và mỗi lần tôi ngoái lại, chàng phải ném một miếng vào miệng tôi. Chàng và ông già đi săn tới chiều, đủ sáu mươi con bò, chất thịt lên lưng chim, phải bắc cái thang mười bốn bậc mới trèo lên được. Đại bàng cất cánh, và mỗi lần nó ngoái đầu, chàng lại ném thịt vào. Gần tới biên giới thì thịt hết. Khi đại bàng ngoái lại lần nữa, chàng chỉ còn cách ném hòn đá vào giữa cổ và đuôi nó. Đại bàng lộn nhào một vòng, hất chàng rơi xuống biển, ngay vịnh trước cung điện nhà vua. May thay đầu ngón chân chàng vừa chạm đáy, và chàng lội được vào bờ.
Chàng lên thị trấn thì đường phố rực đèn, đám cưới của công chúa sắp bắt đầu. Chàng bước vào ngôi nhà đầu tiên gặp được, đó là nhà bà lão nuôi gà của nhà vua. Bà kể: Đêm nay công chúa phải lấy chồng trái ý mình, vì nàng vẫn ngày ngày mong người đã giải bùa cho nàng. Chàng đưa bà một đồng vàng: Bà đi gọi nàng tới đây. Bà lão đi, và chẳng mấy chốc trở về cùng công chúa. Hai người nhận ra nhau ngay. Họ nên vợ nên chồng, và đám cưới linh đình kéo dài một năm một ngày.