Về kệ Người lớn

Đẻ đất đẻ nước

Khoảng 7 phút · 9 cảnh

Thuở trời đất còn mù mịt, một cây si khổng lồ mọc lên rồi đổ xuống, đôi chim Ây cái Ứa sinh ra từ cây ấy đẻ ra những quả trứng, và từ quả trứng điếng nở ra muôn loài cùng loài người. Một mạch kể gọn từ sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường.

Cốt truyện theo: Sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường (Việt Nam)

Người Mường kể rằng, thuở xa xưa lắm, trời với đất còn chưa phân rõ. Bốn bề chỉ có mây mù và nước, không có núi, không có cây, không một tiếng chim kêu, không một bóng người. Trời thấp, đất mềm, ngày với đêm lẫn vào nhau. Rồi trời dần nâng lên cao, đất dần cứng lại. Mưa rơi xuống thành suối thành sông, nắng chiếu xuống làm đất khô ráo. Đá nảy lên thành núi, nước tụ lại thành khe, thành vực. Đất có nước, nước có đất, muôn vật bắt đầu có chỗ để sinh ra. Các thầy mo bảo, vì thế mà gọi là đẻ đất, đẻ nước.

Trên mặt đất mới, mọc lên một cây si. Cây lớn nhanh đến lạ, mỗi ngày một vươn cao, rễ ăn khắp các thung, cành tỏa khắp các núi. Chẳng bao lâu, ngọn si chạm tới trời, tán lá che kín cả mặt trời mặt trăng. Dưới gốc cây, ngày cũng tối như đêm, cỏ cây không lớn được, nước sông lạnh buốt. Cây si sống mãi, già đi, thân cây mục dần từ bên trong. Rồi một ngày, gió bão nổi lên, cây si khổng lồ đổ xuống, ầm ầm như trời sập. Thân cây nằm dài vắt qua bao nhiêu núi, cành gãy rơi rải rác khắp các vùng.

Từ thân cây si đổ, muôn vật bắt đầu sinh ra. Cành si hóa thành rừng, lá si hóa thành cỏ. Và từ trong hốc cây, sinh ra một đôi chim lớn, con trống là chim Ây, con mái là cái Ứa. Đôi chim xòe cánh bay khắp đất trời, đi tìm chỗ làm tổ. Chúng bay qua rừng, qua núi, qua những bãi sông mênh mông, cuối cùng chọn một mỏm đá cao ấm áp để xây tổ. Chim Ây đi tha cành khô, cái Ứa nhặt lông mềm lót ổ. Rồi cái Ứa đẻ ra một ổ trứng, nhiều không đếm xuể.

Đôi chim thay nhau ấp trứng. Ngày tháng qua, trứng nở dần, nở ra muôn loài: con nai, con hoẵng, con gà, con vịt, con cá dưới nước, con chim trên cành. Mỗi quả trứng nở ra một loài, rồi chúng tản đi khắp núi rừng sông suối. Duy có một quả trứng to, vỏ cứng như đá, ấp mãi mà không nở. Người Mường gọi đó là quả trứng điếng. Chim Ây cái Ứa không bỏ cuộc. Chúng ấp quả trứng ấy qua bao mùa mưa, bao mùa nắng, xòe cánh che sương, ủ ấm bằng cả thân mình, lòng tin rằng đến một ngày quả trứng sẽ nở.

Rồi một sớm mai, quả trứng điếng khẽ rung lên, vỏ nứt ra từng mảnh. Từ trong trứng bước ra những con người đầu tiên. Người Mường, người Kinh, người Thái, người Mán và nhiều dân tộc khác cùng ra từ một quả trứng. Vì thế người Mường vẫn nói, các dân tộc trên đất này vốn là anh em một nhà, cùng một mẹ sinh ra. Trong số những người ra đời ấy có Dịt Dàng, người sau này sinh ra Lang Cun Cần. Con người bước xuống núi, nhìn núi rừng mênh mông mà ngơ ngác, bởi họ chưa có lửa, chưa có lúa, chưa biết làm nhà.

Dịt Dàng lớn lên, lấy vợ sinh con. Người con trai tài giỏi nhất là Lang Cun Cần. Lang Cun Cần thông minh, gan dạ, biết thương người, nói điều gì cũng có lý. Dân các nơi kéo về theo chàng. Chàng chia đất cho từng nhà, dạy người ta dựng nhà sàn cao để tránh thú dữ và nước lũ, đặt ra lệ làng để người với người sống hòa thuận. Từ đó Lang Cun Cần được tôn làm vua Mường, người đứng đầu cả một vùng đất rộng lớn. Nhưng dân của chàng vẫn còn khổ, đêm thì lạnh, ăn thì sống, chưa biết đến bát cơm nóng.

Lang Cun Cần thấy dân ăn sống uống lạnh, liền cho người đi tìm lửa. Người ta lặn lội khắp nơi, có người thấy sét đánh cháy cây rừng, đứng xa mà sợ, không ai dám lại gần. Rồi có người ngồi cọ hai thanh gỗ khô vào nhau, cọ mãi, cọ mãi, đến khi khói bốc lên, một đốm lửa nhỏ nhen ra. Cả mường reo mừng. Từ đó nhà nào cũng có bếp, đêm đêm có lửa sưởi ấm, có ánh sáng xua thú dữ, có miếng thịt nướng thơm. Người Mường giữ lửa trong bếp, ngày đêm không để tắt.

Có lửa rồi, nhưng dân vẫn chỉ có củ mài, quả rừng, đói no thất thường. Lang Cun Cần nghe nói ở nơi xa có cây lúa, hạt vàng óng, nấu lên thành cơm thơm dẻo. Chàng sai người vượt núi, băng sông, đi mãi mới tìm được những bông lúa đầu tiên mang về. Lúa về đến mường, người ta cuốc đất làm nương, đắp bờ làm ruộng, gieo hạt xuống. Mùa đầu lúa mọc thưa, mùa sau đã xanh khắp thung lũng. Đến ngày gặt, hạt lúa chín vàng nặng trĩu, cả mường thổi cơm mới, mùi cơm thơm bay khắp các nóc nhà.

Có đất, có nước, có lửa, có lúa, đời người Mường từ đó mới thật sự yên vui. Người ta nhớ ơn đôi chim Ây cái Ứa, nhớ ơn cây si khổng lồ, nhớ ơn Lang Cun Cần. Mỗi khi trong mường có người qua đời, thầy mo lại ngồi bên bếp lửa, hát suốt nhiều đêm liền câu chuyện đẻ đất đẻ nước, kể từ thuở trời đất còn mù mịt, để đưa linh hồn người mất đi về với tổ tiên. Người sống ngồi nghe, nhớ mình từ đâu mà ra. Cứ thế, sử thi được truyền từ đời này qua đời khác, sống mãi giữa núi rừng Mường.