Huyện Kim Hoa có bà Ngô Chi Lan, vợ hiền của tiên sinh họ Phù. Bà chữ đẹp văn hay, thơ lại càng giỏi. Vua Lê Thánh Tông mến tài, vời bà vào cung dạy chữ cho các cung nữ. Mỗi khi có yến tiệc, bà ôm quyển đứng hầu bên vua. Vua bảo làm thơ, chỉ thoáng chốc bà đã xong, chẳng phải sửa một chữ. Danh tiếng nữ học sĩ vang khắp kinh thành. Ngoài bốn mươi tuổi thì bà mất, được chôn ở cánh bãi Tây Nguyên. Năm tháng trôi qua, cỏ mọc xanh trên mộ, tên bà dần chỉ còn trong lời kể của người già.
Cuối đời Đoan Khánh, có chàng học trò Mao Tử Biên lên kinh đi học, lâu ngày nhớ nhà, bèn về thăm quê ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Đi qua huyện Kim Hoa thì gặp mưa gió. Thôn xa đồng vắng, trời tối sập xuống. Nhìn quanh, chàng thấy phía nam có ánh đèn le lói, liền rảo bước tới. Đó là mấy gian nhà tranh giữa đám cây cối rậm rạp. Chàng xin ngủ nhờ, người gác cổng không cho. Nhìn vào trong, chàng thấy một ông già ngồi giữa giường, bên cạnh là một phu nhân trâm ngọc hài cườm, dáng như một bậc phi tần. Phu nhân nói vọng ra: “Đêm khuya mưa gió, người ta xin ngủ nhờ mà không cho thì người ta ngủ đâu?” Tử Biên vén áo bước vào, nằm nghỉ dưới mái hiên phía nam.
Gần trống canh hai, có một người râu tóc đã bạc quá nửa, hai vai nhô cao, cưỡi một con lừa tía đi đến. Ông già trong nhà xuống thềm đón: “Đường xa lận đận, tiên sinh chịu khó quá.” Khách đáp: “Đã trót hẹn thì không nỡ sai lời. Chỉ tiếc mưa gió đầy thành, thơ đang ngâm phải bỏ dở.” Chủ và khách ngồi đối diện, bàn chuyện văn chương. Phu nhân cũng ngồi dự, thấp hơn một bậc. Trong nhà có bốn tấm bình phong bằng đá vân mẫu, mỗi tấm đề một bài từ về một mùa, đều do phu nhân viết. Ông khách đứng dậy, đọc từng bài một.
Bài mùa xuân tả nắng mới hun người như say, liễu biếc oanh vàng cách rèm, bướm quanh hiên hoa, và nỗi buồn xuân mà trẻ nhỏ chẳng hiểu, cứ nghiêng mình cười cợt. Bài mùa hạ tả gió rung hoa lựu, người đẹp dừng kim thêu, tựa song mà hồn mộng bay xa. Bài mùa thu tả sương xuống, cánh nhạn lẻ loi, sen tàn mà giếng còn thơm, đom đóm lượn bên lan can, áo mỏng không chống nổi hơi lạnh. Bài mùa đông tả lò hương đỏ lửa, chén rượu ấm buổi sớm, tuyết lạnh lọt rèm, rồi đầu núi chớm nở một cành mai báo xuân về. Đọc xong, ông khách than: “Nếu không có tôi, phu nhân hẳn là tay tuyệt xướng một thời. Nếu không có phu nhân, tôi cũng là tay kiệt xuất. Lời đồn quả không sai.”
Phu nhân khiêm tốn: “Tài tôi nhỏ mọn, đâu dám sánh với ngài. May được hầu tiên đế, ngày ngày chầu nghiên bút, nên mới biết phép làm thơ.” Rồi bà kể: có lần đi chơi núi Vệ Linh, nơi Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt bay về trời, bà đề một bài, rằng ngựa sắt đã về trời mà tên vẫn ở sử, oai thiêng còn khắp non sông. Bài ấy truyền khắp trong cung, vua khen và ban áo. Lại một hôm, vua chê bài từ của một viên quan, quay sang bảo bà thử tài. Bà cầm bút viết ngay, vua khen mãi, ban năm nén vàng và gọi bà là nữ học sĩ nhà họ Phù. Khi vua băng hà, bà làm thơ viếng, nhớ hơn ba mươi năm trị vì, đêm đêm còn mơ tiếng nhạc trong cung, ngóng về lăng mà nước mắt đầy khăn.
Ông khách nói: “Thơ này không mới lạ, nhưng tình thương nhớ thì thừa, rất hợp ý người xưa. Thơ người xưa lấy hùng hồn làm gốc, bình dị làm khéo, lời gần mà ý xa. Thơ người nay thì không đong đưa cũng giễu cợt, bịa chuyện đặt điều.” Nghe đến đó, phu nhân bỗng rơi nước mắt. Bà kể: “Tôi thờ vua Thánh Tông rồi đến vua Hiến Tông, nghĩa vua tôi mà tình như cha con, ra vào không cần giữ ý. Thế mà kẻ bạc bẽo bày chuyện, làm thơ bóng gió rằng vua buồn thì cứ gọi học sĩ Kim Hoa vào, rằng tiệc tan thơ mỏi thì canh dài nằm đợi. Kẻ sĩ có biết bao thú vui, sao lại lấy không làm có, đem chữ nghĩa ra bôi nhọ người khác?”
Ông khách an ủi: “Đâu phải riêng phu nhân. Từ xưa người trinh liệt bị ngòi bút giễu cợt nhiều lắm. Chị Hằng ở cung trăng, có kẻ làm thơ bảo hối hận vì trót uống thuốc tiên. Người tiên lên trời, có kẻ bịa rằng nàng gặp người này người khác. Ước gì lấy được nước sông Lô mà gột sạch những câu thơ nhơ bẩn ấy.” Phu nhân lau nước mắt: “Không có tiên sinh hiểu cho, tôi thành viên ngọc có vết. Nhưng đêm vui khó gặp, thôi đừng nhắc chuyện buồn.” Rồi ba người bàn sang thơ văn bản triều. Ông khách khen chê từng nhà: người kỳ lạ mà tiêu sái, người tuấn tú mà gay gắt, người như chàng trai xông trận, người như cô gái chơi xuân. Chỉ thơ Nguyễn Trãi đầy lòng trung ái, lúc nào cũng nhớ vua, mới đáng sánh với Đỗ Phủ.
Câu chuyện ấy có thể chép ra đến bốn, năm nghìn chữ, nhưng Tử Biên không nhớ hết. Chàng đứng nép bên khe vách nghe lỏm đã lâu, bỗng lỡ chạm vào vật gì kêu sột soạt. Ông khách nhận ra ngay: “Cuộc gặp hôm nay hiếm có, mà hình như có người nghe trộm. Chỉ sợ chuyện phong lưu của chúng ta bị đem đi đồn khắp nơi.” Phu nhân cười: “Đám nho sinh cầm bút đời sau cùng lắm bảo chúng ta bàn nhảm là cùng, có hề chi.” Tử Biên không hiểu ý ấy là gì, liền rảo bước vào, phục lạy trước ba người và xin hỏi về phép làm thơ. Ông khách rút trong ngực áo ra một quyển sách chừng trăm trang, trao cho chàng: “Cứ đem về mà đọc, tha hồ học, chẳng cần tìm tập nào khác.”
Một lúc sau, bầu nghiêng chén cạn, chủ khách vái chào từ biệt. Ông khách cưỡi lừa đi, Tử Biên cũng đi nằm. Khi mặt trời lên, chàng choàng dậy, thấy mình nằm trên bãi cỏ, áo ướt đẫm sương. Nhà tranh, bình phong, đèn đuốc đều không còn, chỉ có hai nấm mộ một đông một tây. Chàng mở quyển sách ra xem, toàn giấy trắng, chỉ có bốn chữ “Lã Đường thi tập”, nét mực còn óng ánh chưa khô. Bấy giờ chàng mới hiểu ông khách chính là tiên sinh Sái Thuận, hiệu Lã Đường, một nhà thơ nổi tiếng đời trước. Hỏi người quanh vùng, mới biết hai nấm mộ kia là mộ vợ chồng quan Giáo thụ họ Phù.
Tử Biên tìm đến quê của tiên sinh Sái Thuận, dò hỏi bản thảo tập thơ Lã Đường, thì thấy gián nhấm mọt gặm, thất lạc gần hết. Chàng bèn đi khắp xa gần hỏi han, gặp ai còn nhớ câu nào thì chép câu ấy, dù nửa câu, một chữ cũng không bỏ sót. Năm này qua năm khác, quyển sách trắng năm xưa dần dần được lấp đầy. Vì thế, từ khi nhà Lê dựng nghiệp, thi nhân có đến hơn trăm nhà, mà tập thơ của ông Sái vẫn được lưu truyền rộng rãi, phần lớn là nhờ công sức của Mao Tử Biên. Người đọc truyện đến đây hẳn hiểu vì sao đêm ấy, ông khách lại trao cho chàng học trò một quyển sách không chữ.