Về kệ Người lớn

Câu chuyện ở đền Hạng Vương

Khoảng 9 phút · 10 cảnh

Sứ thần Hồ Tông Thốc đề một bài thơ chế giễu ở đền Hạng Vũ, đêm ấy liền được mời vào cung điện trong mộng để đối chất với chính Sở Bá Vương. Cuộc tranh luận về thời trời và lòng người giữa nhà thơ nước Việt và hồn ma vị bá vương thua trận: truyện thứ nhất của Truyền kỳ mạn lục.

Cốt truyện theo: Truyền kỳ mạn lục, Câu chuyện ở đền Hạng Vương

Cuối đời nhà Trần, có quan Thừa chỉ Hồ Tông Thốc là người giỏi thơ, lại có tài châm biếm giễu cợt. Một lần ông phụng mệnh sang sứ phương Bắc, đi ngang qua ngôi đền thờ Hạng Vương, tức Sở Bá Vương Hạng Vũ, người từng tranh thiên hạ với Hán Cao Tổ rồi thua trận mà tự vẫn bên bến Ô Giang. Hồ Tông Thốc dừng ngựa xem đền, cao hứng đề lên vách một bài thơ. Đại ý bài thơ rằng: Hạng Vương đem con em đất Giang Đông vào Quan Trung, đốt cung A Phòng, để lỡ cơ hội ở tiệc Hồng Môn; thua chạy thì trời xui lạc lối, muốn về Giang Đông thì không còn đất; năm năm tranh hùng rốt cuộc chỉ được người ta chôn theo lễ Lỗ Công.

Đề thơ xong, ông ruổi ngựa về nhà trọ. Tối ấy, rượu say, ông nằm ngủ, chiêm bao thấy một người đến nói: Tôi vâng lệnh vua tôi, mời ngài đến nói chuyện. Hồ Tông Thốc vội vàng sửa sang áo mũ đi theo. Người ấy dẫn ông đến một cung điện nguy nga, quan hầu đứng hai hàng răm rắp. Hạng Vương đã ngồi chờ sẵn trên điện, bên cạnh đặt một chiếc sập lưu ly, mời ông lên ngồi.

Hạng Vương hỏi: Bài thơ ông đề lúc ban ngày, sao mà mỉa mai ta dữ thế? Hai câu nói chuyện thua chạy, chuyện không còn đất về Giang Đông thì cũng đúng, nhưng hai câu cuối chê ta năm năm tranh hùng hóa ra công cốc, chỉ được chôn theo lễ Lỗ Công, chẳng phải là lời chê bai không chính đáng sao? Hán làm nên nghiệp lớn, ta cũng làm nên nghiệp lớn. Ta không diệt được Hán, chứ Hán đâu có quyền phong tước cho ta. Đến như Điền Hoành chỉ là kẻ tầm thường còn không thèm nhận tước nhà Hán, huống chi ta đường đường là bá vương nước Sở, lại cam nhận cái lễ Lỗ Công hay sao?

Hạng Vương nói tiếp: Ngày xưa nhà Tần để xổng con hươu, thiên hạ tranh nhau đuổi bắt. Ta ghét nhà Tần mà dấy binh, lấy răng bừa làm giáo, lấy cơm chiêm làm lương, tôi tớ đều thành quân, hào kiệt đều thành tướng. Phá đất Ngô như phá tổ kiến, lấy đất Hoài như đốt lông hồng. Một trận mà quân Chương Hàm tan, hai trận mà miếu nhà Tần sụp đổ. Chư hầu đều đứng dưới cờ nước Sở. Vậy mà rốt cuộc Sở phải mất về tay Hán, chẳng phải bởi trời sao? Lại nói, thơ đời sau viết về ta có đến hàng nghìn bài, phần nhiều là những lời phụ bạc, ta vẫn bất bình lắm.

Hồ Tông Thốc cười mà đáp: Lẽ trời và việc người vẫn đi liền với nhau. Cứ cho rằng mệnh ở trời, nên vua Trụ nhà Thương mất nước; cứ cho rằng trời sinh đức cho mình, nên Vương Mãng phải bỏ mạng. Nay nhà vua bỏ việc người mà đi bàn lẽ trời, vì thế đến lúc thua mất mà vẫn chưa tỉnh ngộ. Hôm nay may được nhà vua cho gặp, tôi xin nói thẳng không giấu giếm, nhà vua nghĩ sao? Hạng Vương nói: Ông cứ nói.

Hồ Tông Thốc nói: Xoay thế thiên hạ là ở trí chứ không ở sức; thu lòng thiên hạ là ở nhân chứ không ở bạo. Nhà vua chỉ lấy quát tháo làm oai, lấy cứng cỏi làm đức. Chém Tống Nghĩa là thượng tướng của vua Sở, ấy là coi thường quân thượng. Giết Tử Anh là vua Tần đã đầu hàng, ấy là bất nghĩa. Hàn Sinh không có tội mà bị đem nấu, hình pháp trái thường. Cung A Phòng vô cớ bị đốt, hung uy quá mức. Những việc nhà vua làm như thế, được lòng người hay mất lòng người? Hạng Vương cãi lại từng việc một, rằng giết Tống Nghĩa là để cứu dân nước Triệu, giết Tử Anh là trả thù cho sáu nước, nấu Hàn Sinh là để răn kẻ bất trung, đốt A Phòng là để răn vua đời sau.

Hồ Tông Thốc lại nói: Thế còn việc giết vua Nghĩa Đế trên sông, nỡ lòng nào như vậy? Sao bằng người Hán: biết nghe lời Đổng Công, cho ba quân để tang Nghĩa Đế, làm việc nhân nghĩa, khiến đạo vua tôi hầu rối lại sáng; biết về đất Khúc Phụ tế đức Khổng Tử, khiến đạo thi thư hầu đứt lại nối. Cho nên người ta nói Hán được thiên hạ không phải chỉ nhờ dùng người tài, mà ở chỗ gợi được lòng trung phẫn của hào kiệt; Hán giữ được thiên hạ là nhờ mở nền nương tựa cho đời sau. Nhà vua so sánh làm sao được với vua Hán? Hạng Vương nghẹn lời không nói ra được, sắc mặt tái như tro nguội.

Bỗng một vị lão thần họ Phạm đứng bên cạnh tiến lên nói: Bầy tôi của đại vương có người như Tào Cao, sa cơ không chịu sống nhục, liều mình để chết vinh; nếu vua không biết đạo trị người, sao có được người tôi trung như vậy? Còn bên kia, sai Ung Xỉ giữ đất Phong thì Ung Xỉ hàng giặc, sai Trần Hy coi nước Triệu thì Trần Hy làm phản. Hậu cung của đại vương có nàng Ngu Cơ, mệnh nhẹ như lá thu, hồn theo bóng kiếm. Còn bên kia, Lã Hậu ngang ngược, nàng Thích Cơ được yêu rồi bị hành hạ thảm khốc. Hán Cao Tổ còn bảo chia cho mình một chén canh khi cha mình sắp bị đem nấu, yêu con nhỏ mà coi nhẹ gốc nước. Đạo vua tôi, đạo vợ chồng, đạo cha con, bên nào hơn?

Lão thần nói tiếp rằng người đời sau bàn luận chẳng xét nặng nhẹ phải trái, khen Hán không tiếc lời, chê Sở không tiếc sức, khiến đại vương nơi cõi âm phải chịu những lời cay độc, mong rằng những điều nhơ nhuốc ấy được rửa sạch. Hồ Tông Thốc thấy lời ấy cũng có lý, gật đầu hai ba lần, rồi ngoảnh lại bảo những người theo hầu: Các ngươi ghi nhớ lấy. Rồi canh tàn trà cạn, ông đứng dậy cáo từ. Hạng Vương tiễn ông ra đến cửa thì phương đông đã rạng sáng.

Hồ Tông Thốc vùng dậy, hóa ra chỉ là một giấc chiêm bao. Ông bèn sai mua rượu và nem, bày một lễ cúng ở đầu thuyền trước khi rời khỏi nơi ấy, như để tạ lời vị bá vương nước Sở. Người bình truyện đời sau viết rằng: so Sở với Hán thì Hán hơn, nhưng so Hán với đạo vương giả thì Hán còn xa lắm. Sở làm trái nhân nghĩa, còn Hán cũng chỉ là giống với nhân nghĩa mà thôi. Người cầm quyền thiên hạ phải hướng tới đạo vương giả trọn vẹn, còn chuyện Hán Sở hơn kém, hãy gác lại không cần bàn.