Đời nhà Lý, ở làng Hải Thanh ven biển có ngôi chùa tên là Nham Quang. Vị sư ở đó là thiền sư Không Lộ, họ Dương, người ngay trong làng. Thuở trước, nhà ông đời đời sống bằng nghề đánh cá, ngày ngày ra khơi, chiều chiều kéo lưới về bến. Rồi một ngày, ông bỏ hẳn nghề cũ, xuất gia đi tu, ngày đêm tụng bộ kinh Già Trì Đà La Ni. Từ đó, người làng chỉ còn thấy ông bên ngọn đèn và tiếng mõ trong chùa.
Vào khoảng những năm Chương Thánh, Gia Khánh, Không Lộ kết làm bạn đạo với một người cùng làng là Giác Hải. Hai người cùng đến nương thân ở chùa Hà Trạch. Ở đó, Không Lộ ăn rau cỏ, mặc áo dệt bằng vỏ cây, sống như người đã quên hẳn thân mình. Một mặt ông dứt hẳn chuyện sát sinh, một mặt giữ nghiêm giới luật, tu dưỡng tâm tính. Ngày tháng trôi qua, dung mạo ông mỗi ngày một sáng suốt, thanh thản lạ thường.
Lâu dần, Không Lộ luyện được những phép lạ lùng. Ông bay được trên không, đi được dưới nước, khiến hổ dữ phải phục, rồng phải hàng. Ông biến hóa nghìn hình vạn trạng, không ai lường được ông thật sự là ai. Có vị sư đến hỏi đạo, than rằng từ khi tới chùa chưa được ông chỉ dạy điều gì về tâm, rồi đọc tặng một bài kệ. Ý bài kệ ấy rằng: giữ giới thì lòng mới trong, rừng cây rậm rạp làm hồn yếu lạc lối, người đến hỏi đạo chân không mà còn đứng bên bức bình phong, rối trí vì bóng hình. Không Lộ hiểu ý, cười lớn mà đáp: "Ngươi muốn đến thì cứ đến, cầm kinh mà đến, ta sẽ tiếp, ta sẽ lo cho, có điều gì mong mà chẳng được."
Rồi ông đọc tặng lại vị sư một bài kệ. Ý bài kệ rằng: chọn được chốn đất rồng rắn ở, cả ngày lòng quê vui chẳng hết. Có lúc trèo thẳng lên đỉnh núi chơi vơi, hét dài một tiếng, lạnh cả bầu trời. Năm Đại Khánh thứ mười, đời vua Lý Nhân Tông, ngày mồng ba tháng sáu, thiền sư Không Lộ viên tịch. Học trò chôn cất ông trước cửa chùa. Vua xuống chiếu mở rộng chùa và cắt ba nghìn hộ dân lo việc hương khói cho ông.
Giác Hải cũng là người làng Hải Thanh, họ Nguyễn. Thuở trước, ông mê nghề chài lưới, sống trên thuyền như ở nhà, ngày tháng lênh đênh trên biển. Năm hai mươi lăm tuổi, ông mới bỏ nghề, cắt tóc đi tu. Ban đầu ông ở cùng Không Lộ tại chùa Hà Trạch, sau đến đời vua Lý Nhân Tông thì trở về Hải Thanh, ở chùa Diên Phúc ngay trong làng. Tiếng tu hành của ông dần dần đến tai nhà vua.
Giác Hải cùng Thông Huyền chân nhân thường được vua mời vào cung Liên Hoa, ngồi hầu trên phiến đá mát. Một hôm có hai con quạ bay đến, kêu nhau inh ỏi, tiếng chát chúa vang cả tai. Vua sai Thông Huyền đọc chú cho chúng im. Thông Huyền lẩm nhẩm đọc chú, một con im bặt, còn một con vẫn kêu. Vua cười bảo: "Còn một con để dành cho nhà sư đấy." Giác Hải đọc chú, con quạ thứ hai lập tức lặng tiếng.
Vua lấy làm lạ, làm thơ khen, đại ý rằng: lòng Giác Hải rộng như biển, phép Thông Huyền cũng thật huyền diệu, thần thông biến hóa khôn lường, một người là Phật, một người là tiên. Từ đó tiếng tăm thiền sư vang khắp nơi, tăng chúng trong nước kéo về theo học rất đông. Vua còn mở hội lớn để tôn vinh ông. Mỗi lần ngự giá về làng Hải Thanh, vua đều ghé chùa thăm.
Một lần vua hỏi: "Thầy có biết phép ứng chân tĩnh thần không?" Giác Hải liền đọc một bài kệ khen tám phép biến hóa, rồi bay vọt lên không trung, cách mặt đất mấy trượng. Vua và quần thần đều vỗ tay khen ngợi. Vua ban cho ông một chiếc kiệu để ra vào các nơi trong làng. Đến đời vua Lý Thần Tông, vua mấy lần mời ông và học trò vào chầu, ông đều lấy cớ già yếu mà từ chối.
Có người hỏi ông về Phật và chúng sinh, ai là khách, ai là chủ. Ông đáp bằng một bài kệ, khuyên người đã bạc đầu hãy biết mình là khách, mà cửa Phật thì rộng mở đón khách vào. Lúc sắp mất, ông đọc bài kệ cuối, ý rằng: xuân về, hoa bướm chẳng hề lỡ hẹn, hoa bướm đến cùng nhau đúng lúc. Nhưng hoa bướm vốn là huyễn, chớ hỏi trong lòng chúng có gì. Đêm ấy có sao Huỳnh Hoặc sa xuống góc tây nam. Sáng ra, thiền sư ngồi ngay ngắn mà viên tịch. Vua lại cắt ba nghìn hộ dân lo việc thờ cúng ông.