Đời vua Lý Huệ Tông, có ông Dương Tạc, người phủ Thường Tín, làm quan coi việc hình án ở trấn Tuyên Quang. Ông xét án rất cẩn thận, gỡ cho biết bao người khỏi nỗi oan khuất, khiến các vụ án đều được công bằng. Vì lòng nhân từ phúc hậu ấy, người đương thời gọi ông là Đức Công. Thế nhưng đến năm năm mươi tuổi, ông vẫn chưa có con trai. Một hôm, ông ốm nặng rồi tắt thở, hồi lâu lại tỉnh dậy, kể với mọi người một chuyện lạ.
Ông kể rằng mình vừa đến một tòa thành tường đen vách sắt, có viên chức dẫn ông vào một dinh có cửa đỏ biển son. Trong đó có hai vị mặc áo bào tía ngồi bên án, sai lấy sổ son của họ Dương ra xem, rồi bảo nhau: Người dương gian ít ai được thế, đã cứu sống nhiều người, chỉ tiếc tuổi không dài, lại không có con nối dõi. Người như thế mà không biểu dương thì lấy gì khuyên kẻ khác, ta phải tâu lên Thượng đế. Nửa ngày sau, hai vị gọi ông vào, báo rằng Thượng đế khen ngợi, ban cho ông một người con trai tốt và cho sống thêm hai mươi bốn năm nữa. Trên đường về, viên chức dẫn đường cho biết đó là một trong hai mươi bốn tòa ở Phong Đô, người tên ở sổ son còn mong sống lại, chứ đã ghi sổ mực thì hết đường.
Bà vợ cũng kể đêm qua, lúc cuối canh một, thấy một ngôi sao nhỏ rơi vào lòng, trong người bỗng rung động. Rồi bà có mang, đủ tháng sinh được một con trai, đặt tên là Thiên Tích, nghĩa là trời ban. Thiên Tích rất thích uống trà, thường tự ví mình với những người sành trà đời xưa. Cậu thông minh hơn người, sách vở cổ kim không cái gì là không đọc qua. Đức Công mừng rỡ nói: Thế là ta có người nối dõi rồi! Ông đem điều nghĩa lý chân chính dạy con. Hai mươi bốn năm sau, ông không ốm đau gì mà qua đời, đúng như lời thần đã định.
Mãn tang cha, Thiên Tích sớm hôm chăm học, nhưng nhà nghèo, ăn tiêu không đủ. Chàng tìm đến những nhà có con gái xin ở rể, nhưng chẳng ai nhận. Hàng xóm thấy chàng nghèo, thường đem lòng khinh rẻ. Chàng than rằng: Cha ta thuở trước cứu sống hàng nghìn người, mà rút cục không cứu nổi đứa con mình. Làm điều thiện như thế có ích gì! Nói chưa dứt lời, bỗng có một người áo mũ chỉnh tề đến vái chào, tự xưng là quan đại phu họ Thạch, nói rằng ngày xưa từng chịu ơn sâu của Dương Công, nay có con gái tên Hán Anh, xin gả cho chàng, dặn chàng giữ gìn thân mình, đừng vì nghèo mà nản chí. Nói xong, người ấy biến mất.
Thiên Tích lấy làm lạ, ghi nhớ lời ấy. Nghe ở huyện Tiên Du có Trần tiên sinh dạy học trò đến mấy trăm người, chàng cắp sách đến theo học, ở trọ trong xóm Thanh Lân. Trong xóm có nhà họ Hàng giàu có nhờ buôn bán, thấy chàng mặt mũi khôi ngô, văn chương thông thái, liền bàn nhau gả con gái cho. Họ lo hết mọi phí tổn cưới xin. Chàng mừng lắm, nhưng lúc vắng vẻ thường ngồi thừ ra, gấp sách thở dài. Người vợ hỏi, chàng nói thật: thần báo ta sẽ lấy vợ họ Thạch tên Hán Anh, nay lời ấy không đúng, e rằng việc thành đạt về sau cũng chẳng đúng nốt.
Người vợ nghe xong, nước mắt giàn giụa mà nói: Đó chính là cha thiếp. Thiếp thuở nhỏ tên là Hán Anh, cha họ Thạch, làm quan ở Tuyên Quang, bị kẻ trên vu hãm, cả nhà bị bắt rồi chết trong ngục. Bấy giờ thiếp còn nhỏ dại, được ông Dương Đức Công thương là vô tội, hết sức cãi lại các quan, tha cho ra khỏi ngục. Cha mẹ nuôi ở đây thương tình, nhận làm con nuôi đã mười năm nay. Thiên Tích kinh ngạc nói: Thế thì tôi chính là con của Đức Công! Mới hay vợ chồng xưa nay không ai là không bởi duyên trời định. Từ đó, tình vợ chồng càng thêm thắm thiết.
Có chỗ dựa vững vàng, chàng chuyên tâm học hành, đi thi hai khoa đều đỗ. Thoạt đầu lĩnh chức dạy học ở kinh, sau thăng lên chức đề hình, trải hai mươi năm thì làm đến chức quan lớn nhất triều. Ông thờ vua thì trung, giữ mình thì liêm, trải hai triều đều được tin dùng. Nhưng vì lúc nhỏ nghèo khổ, bị nhiều người khinh rẻ, nên ân dù chỉ bằng sợi tơ, oán dù chỉ bằng sợi tóc, ông đều báo đáp cả. Đó là chỗ kém duy nhất của ông.
Một lần, ông lập đàn cầu an, mời mấy trăm đạo sĩ mũ cao áo rộng đến cúng tế. Bỗng có một đạo sĩ áo rách giày nát thất thểu tới, người gác cổng không cho vào. Ông nghe bẩm, quát đuổi đi. Đạo sĩ vừa đi vừa than: Cố nhân tìm cố nhân, chẳng ngờ cố nhân bạc tình. Sau này gặp nạn ở Ô Tôn, xin đừng phiền đến nhau. Ông nghe thấy, giật mình sai người đuổi theo mời lại, xuống thềm đón tiếp. Đạo sĩ hỏi: Tướng công nay phú quý tột bậc, còn nhớ thú vui ở cung Tử Vi chăng? Rồi kể rằng xưa ông vốn là gã trà đồng hầu trà của Thượng đế, còn đạo sĩ là viên quan coi kho rượu trên trời. Thượng đế hỏi ai muốn xuống trần làm tể tướng hơn mười năm, chính ông đã vui vẻ nhận lời.
Đạo sĩ đưa cho ông một viên linh đan. Uống xong, ông thấy tâm hồn sáng tỏ, nhớ lại hết chuyện kiếp trước. Đạo sĩ cho biết mình vì tính tềnh toàng, hay uống rượu nên bị đày xuống trần, nay đã mãn hạn, sắp trở về chức cũ. Rồi đạo sĩ buồn bã nói: Năm năm nữa ông có việc đi biển, e gặp tai nạn lớn. Làm tể tướng ông không có lỗi gì lớn, chỉ vì ở ngôi lâu ngày, yêu người này ghét kẻ khác, nay thù oán đã sâu, hồn oan đầy ngoài đường rồi. Tôi tên là Quân Phòng, khi nguy cấp cứ đốt hương gọi tên tôi. Đêm ấy, đạo sĩ khuyên ông rằng đức là nền của điều thiện, của là kho của tranh giành, thiện ác dù nhỏ cũng rõ ràng, báo ứng dù chậm nhưng không sai tơ tóc. Sáng ra, ông đem vàng tặng, đạo sĩ cười từ chối, chỉ dặn ông cố làm điều lành.
Về sau, Thiên Tích vì dâng lời tâu trái ý vua mà bị đày vào phương Nam. Thuyền đi qua cửa biển Khẩu Hải, giữa ban ngày sáng sủa bỗng mây đen kéo đến, gió nam nổi ầm ầm, sóng dựng lên như núi. Hàng trăm ma quỷ ở đâu kéo tới, hò reo: Kẻ thù của chúng ta đây rồi, hôm nay mới được hả lòng! Kẻ níu đuôi thuyền, kẻ leo đầu thuyền, thuyền chòng chành mấy lần suýt lật. Ông vội hỏi người lái thuyền đây là đâu, người ấy đáp là đất Ô Tôn. Ông sực nhớ lời đạo sĩ, liền đốt hương gọi tên Quân Phòng.
Thoắt chốc, một cỗ xe mây bay đến, dừng lại trên không, hai bên có ngọc nữ tiên đồng chầu hầu nghiêm trang. Đạo sĩ Quân Phòng gọi bầy quỷ mà bảo: Lũ các ngươi nghiệp chướng nặng nề, lúc sống đã phạm phép, lúc chết lại gây thêm tội, oan oan tương báo biết bao giờ mới dứt? Sao không rửa lòng quay về đường chính? Ta sẽ tâu Thượng đế giải oan cho cả. Bầy quỷ nghe nói, mừng rỡ nhảy nhót rồi tan biến hết. Ông khẩn khoản mời xe tiên hạ xuống, nhưng chớp mắt đã không thấy đâu nữa. Gió êm sóng lặng, thuyền vào được bờ. Thiên Tích từ biệt vợ con rồi đi đâu không ai biết. Về sau có người gặp ông ở núi Đông Thành, ai cũng ngờ ông đã đắc đạo thành tiên.