Về kệ Người lớn

Giang Văn Minh đi sứ

Khoảng 8 phút · 10 cảnh

Thám hoa Giang Văn Minh mang sứ mệnh sang nhà Minh, tương truyền khóc giỗ tổ năm đời để đòi bỏ lệ góp giỗ Liễu Thăng, rồi đối lại vua Minh bằng câu Đằng Giang tự cổ huyết do hồng. Ông chết nơi đất khách, được vua Lê khen là sứ thần không làm nhục mệnh vua: giai thoại về khí tiết một sứ thần đất Việt.

Cốt truyện theo: Giai thoại dân gian Việt Nam về Giang Văn Minh

Giang Văn Minh sinh năm một nghìn năm trăm bảy mươi ba, ở làng Mông Phụ, tục gọi là Kẻ Mía, thuộc đất Đường Lâm, xứ Sơn Tây. Đó là một làng cổ với những bức tường đá ong, cổng làng rêu phong, nơi đất học có tiếng. Ông chăm chỉ đèn sách từ nhỏ, đến năm Mậu Thìn đời vua Lê Thần Tông thì đỗ đầu kỳ thi Hội, vào thi Đình đỗ Thám hoa. Khoa ấy không ai đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn, nên ông là người đỗ cao nhất. Sau đó ông lần lượt làm quan trong triều, được tiếng là người cương trực, giỏi văn chương.

Bấy giờ nhà Mạc đã chạy lên Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn chơi trò hai mặt, công nhận cả nhà Lê lẫn nhà Mạc, để cuộc chiến giữa hai bên kéo dài mãi. Cuối năm Dương Hòa thứ ba, vua Lê sai Giang Văn Minh làm chánh sứ, cùng Nguyễn Duy Hiểu và các phó sứ dẫn đoàn sang nhà Minh cầu phong và dâng lễ tuế cống. Năm ấy ông đã ngoài sáu mươi tuổi. Đường sang Yên Kinh xa xôi cách trở, qua núi qua sông, đi hàng mấy tháng trời. Gánh trên vai sứ đoàn là thể diện của cả một đất nước.

Năm sau, sứ đoàn đến Yên Kinh. Nhưng vua Minh mượn cớ lệ cũ chưa có quy định rõ ràng về việc sắc phong, chỉ ban sắc thư khen thưởng, không chịu công nhận vua Lê là chính thống. Tương truyền, sứ đoàn còn bị bắt chờ đợi mãi mà không được vào chầu. Ngày qua ngày, cửa triều vẫn đóng chặt. Giang Văn Minh biết rằng nếu cứ ngồi đợi thì sứ mệnh sẽ thất bại, mà nước nhà thì vẫn phải chịu những lệ cống nặng nề từ bao đời nay.

Món nợ ấy có từ hai trăm năm trước. Khi Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, viên tướng Liễu Thăng dẫn đại quân sang cứu viện, bị nghĩa quân Lam Sơn chém ở ải Chi Lăng. Để giữ hòa hiếu sau chiến tranh, nước ta phải nhận lệ hằng năm cống người bằng vàng, được nói là để đền mạng Liễu Thăng, mà người đời quen gọi là lệ góp giỗ Liễu Thăng. Bao đời vua đã qua, lệ ấy vẫn còn, vừa tốn kém vừa nhục nhã. Giang Văn Minh quyết tìm cách xóa bỏ món nợ này.

Tương truyền, một hôm Giang Văn Minh bày lễ, mặc áo tang, ngồi khóc thảm thiết ngay nơi công quán. Chuyện lạ đến tai vua Minh, vua cho đòi vào hỏi. Ông tâu rằng hôm nay là ngày giỗ cụ tổ năm đời của mình, ở xa quê không về làm giỗ được nên thương xót mà khóc. Vua Minh bật cười, bảo rằng tổ năm đời đã mất từ lâu lắm, ai lại còn khóc giỗ như thế. Ông liền thưa lại: tổ năm đời đã xa mà không nên giỗ, thì cớ sao Liễu Thăng chết đã hai trăm năm, nước tôi năm nào cũng phải góp giỗ? Vua Minh biết mình mắc lời, đành bãi bỏ lệ góp giỗ Liễu Thăng.

Vua Minh mất mặt, trong lòng tức giận. Tương truyền, trước mặt văn võ bá quan và sứ thần các nước, vua ra cho sứ đoàn một vế đối: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục. Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã xanh. Câu ấy nhắc đến cột đồng mà Mã Viện tương truyền đã dựng sau khi đánh Hai Bà Trưng, ngụ ý rằng phương Bắc vẫn làm chủ đất Nam, chuyện ấy đã yên như rêu phủ cột đồng. Cả triều đình lặng đi, chờ xem sứ thần nước Nam đáp lại thế nào.

Giang Văn Minh đứng thẳng, ung dung đọc vế đáp: Đằng Giang tự cổ huyết do hồng. Nghĩa là: Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn còn đỏ. Câu đối vừa chỉnh, vừa sắc. Cột đồng của Mã Viện chưa chắc đã có thật, còn sông Bạch Đằng thì sừng sững đó, nơi Ngô Quyền phá quân Nam Hán, Lê Hoàn phá quân Tống, Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên. Lời đáp như nhắc thẳng vào mặt vua Minh rằng phương Bắc bao lần sang đánh nước Nam, bấy nhiêu lần chuốc lấy thất bại.

Vua Minh giận dữ, quên cả thể diện thiên triều, bất chấp lệ thường bang giao. Tương truyền, vua sai giết sứ thần, lại còn sai mổ bụng ông ra xem gan sứ thần An Nam to đến đâu. Giang Văn Minh mất nơi đất khách, năm ấy đã ngoài sáu mươi tuổi. Nhưng rồi vua Minh cũng kính phục khí tiết của ông, lại sợ gây thêm thù oán khi trong nước đang rối ren, nên cho ướp thi hài ông bằng thủy ngân, đưa về trả cho nước Nam.

Linh cữu về đến Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng thân đến làm lễ, truy tặng ông chức công bộ tả thị lang, tước Vinh quận công. Vua ban cho ông câu đối: Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng. Nghĩa là: Đi sứ không làm nhục mệnh vua, xứng là anh hùng muôn thuở. Trong bài văn tế có câu rằng: ai cũng sống, sống như ông thật đáng sống; ai cũng chết, chết như ông thì chết như sống. Ông được an táng ở cánh đồng Đồng Dưa quê nhà, nơi còn quán nhỏ từng quàn linh cữu ông.

Chuyện Giang Văn Minh đi sứ được chép lại trong gia phả họ Giang, rồi truyền đi khắp nơi. Sử sách chính thống của hai nước không ghi lại, nên người đời sau coi đó là giai thoại. Nhưng giai thoại ấy sống mãi trong lòng người Việt, bởi nó nói lên điều mà ai cũng muốn tin: một sứ thần nước nhỏ vẫn có thể đứng thẳng trước ngai vàng nước lớn. Ngày nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được công nhận là di tích, và nhiều con phố trên khắp đất nước mang tên Giang Văn Minh.