Về kệ Người lớn

Trạng Giáp Hải và túi bạc trả lại

Khoảng 10 phút · 12 cảnh

Bà hàng nước nghèo trả lại túi bạc cho người khách Tàu, được tìm cho ngôi đất tốt, rồi sinh ra một cậu bé bị bắt cóc lúc lên bốn. Cậu lớn lên đỗ Trạng nguyên Giáp Hải, nhận lại mẹ nhờ nốt ruồi đỏ, nhưng một bản án quá tay khiến ông phải trả nợ oan gia: truyện về phúc và quả từ Nam Hải dị nhân liệt truyện.

Cốt truyện theo: Nam Hải dị nhân liệt truyện, truyện Giáp Hải

Ở làng Công Luận, huyện Văn Giang, có một người đàn bà nghèo, chỉ có vài gian nhà tranh bên vệ đường, ngày ngày bán hàng nước kiếm sống. Một hôm, có người khách Tàu đi qua, ghé vào hàng nghỉ chân, lúc đi bỏ quên lại một túi bạc. Nửa tháng sau, người khách hớt hải quay lại hỏi. Bà hàng nước đem cả túi ra trả, vẫn nguyên như cũ, không suy suyển một đồng.

Người khách xin biếu lại một nửa, bà không nhận, bảo: “Tôi vì không ưa của phi nghĩa nên mới nghèo thế này, có đâu bây giờ lại nhận của ông.” Cảm cái bụng ấy, khách hỏi mồ mả tổ tiên của bà ở đâu, để tìm giúp một ngôi đất tốt. Bà nói: “Tôi đàn bà, có một thân một mình, chẳng anh em nào. Nay đã ngoài bốn mươi, dù được đất hay thì bao giờ mới phát, mà phát thì để làm gì?” Khách bảo: “Được đất hay thì đàn bà cũng phát phúc.” Bà đưa khách ra mộ cha. Khách tìm đất cải táng cho, rồi dặn: “Về sau ai gặp nạn đến đây, bà phải hết lòng cứu giúp, ắt có điềm lành.”

Được nửa năm, một tối trời mưa gió, có người làng Bát Tràng nghèo đi làm thuê, quần áo ướt sũng, rét run cầm cập, ghé vào xin ngủ nhờ. Bà hỏi han đầu đuôi rồi cho vào, đốt lửa cho sưởi, dọn cơm cho ăn. Đêm ấy rét lắm mà nhà chỉ có độc một chiếc chiếu. Nhường chiếu thì mình không chịu nổi, để khách nằm đất thì không đành lòng, bà đành cho nằm chung một giường. Lửa gần rơm, hai người thành ra ăn nằm với nhau. Nào ngờ người kia mắc chứng hàn thấp, chỉ một lúc sau thì tắt thở. Bà kinh hãi, sợ người ta biết chuyện, đang đêm phải lôi ra bãi tha ma vùi xuống. Từ đấy, bà có mang.

Vài tháng sau, người khách Tàu trở lại, hỏi: “Từ ngày táng mộ đến nay, bà đã cứu được ai chưa?” Bà không giấu, kể hết đầu đuôi. Khách bảo chỉ cho xem chỗ chôn. Ra đến nơi, khách ngắm nghía hồi lâu rồi nói: “Chỗ này là huyệt trời táng đấy. Nếu bà có thai thì ắt sinh ra bậc trạng nguyên tể tướng.” Đủ ngày đủ tháng, bà sinh được một đứa con trai, cốt cách khác thường.

Cậu bé lên bốn tuổi thì một hôm ra chơi ở bờ sông. Có người lái buôn làng Sinh Kế, huyện Phượng Nhỡn, chèo thuyền qua bến, thấy đứa bé xinh xắn bụ bẫm, liền bế trộm xuống thuyền mà đi mất. Người mẹ tìm con khắp nơi chẳng thấy, ngỡ con chết đuối dưới sông, đau đớn khôn xiết.

Người lái buôn đem đứa bé về, thương yêu như con, lớn lên cho đi học. Cậu học rất sáng dạ, nổi tiếng thần đồng, văn chương mỗi ngày một hay. Đó chính là Giáp Hải. Năm ba mươi hai tuổi, ông đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Tuất, niên hiệu Đại Chính nhà Mạc. Ngày vinh quy về làng Sinh Kế, dân làng phải phục dịch vất vả. Có người biết gốc gác ông, bảo nhỏ với nhau: “Chẳng biết người ở xứ nào đến đây mà bắt dân ta khổ thế này!” Giáp Hải nghe lỏm được, chẳng hiểu vì sao.

Ông đi xem khắp mồ mả tổ tiên, chẳng thấy ngôi nào đáng phát trạng nguyên, trong bụng càng ngờ. Ông dò hỏi người quen, có người biết chuyện kể lại. Giáp Hải tìm đến tận làng Công Luận, thấy một bà cụ ngoài bảy mươi bán hàng bên đường, cảnh khốn khó lắm. Ông sai người vào hỏi. Bà cụ kể ngày trước có một đứa con trai, bốn năm tuổi ra bờ sông chơi rồi lạc mất, nay chỉ còn một thân, chẳng biết nương tựa vào đâu. Giáp Hải đoán là mẹ mình, cho người hỏi bà có bằng lòng về để ông nuôi không. Bà cụ mừng rỡ nhận lời.

Đón bà về nuôi rồi, Giáp Hải vẫn chưa dám chắc. Ông vốn có một nốt ruồi đỏ, lúc ngồi nhàn thường để lộ ra. Một hôm bà cụ trông thấy, cứ nhìn chằm chằm không chớp mắt. Người nhà quở bà sao dám nhìn quan lớn mãi như thế. Bà cụ nói: “Ngày trước tôi sinh được một đứa con trai cũng có nốt ruồi như thế, nay trông thấy lại nhớ con, xin quan lớn thứ lỗi.” Giáp Hải liền gọi bà lại hỏi cặn kẽ. Bà kể rành mạch từ đầu đến cuối. Ông buồn rầu than: “Ta uổng mất nửa đời, có mẹ mà chẳng biết. Nay nhờ trời mới gặp lại.” Từ đấy mẹ con nhận nhau, ông hết lòng phụng dưỡng sớm hôm.

Về sau, Giáp Hải làm quan đề điệu trường thi Hương ở trấn Sơn Nam. Hôm thi, ông ra đầu bài hiểm hóc quá, học trò nhao nhao, toan phá trường mà ra. Ông phải đổi đầu bài khác, học trò mới yên. Rồi ông sai người dò xét, bắt được kẻ cầm đầu, giải ra ngoài cổng trường, kết án chém. Người học trò kêu rằng nhà chỉ có một mình là con trai, xin nộp một nghìn quan tiền chuộc tội. Giáp Hải không nghe, nhất định xử theo phép nước.

Được ít lâu, con trai Giáp Hải là Giáp Phong, đã đỗ tiến sĩ, làm quan ở viện Hàn lâm, ngoài ba mươi tuổi, bỗng một hôm không ốm đau gì mà mất. Rồi bốn con trai, hai con gái khác cũng lần lượt mất cả. Giáp Hải đau xót vô cùng, mời thầy phù thuỷ đến làm phép đánh đồng thiếp. Ông ngồi lặng nhắm mắt, thầy vẽ bùa niệm chú, một lúc thì ông ngã gục xuống. Trong cơn mê, có sứ giả dẫn ông đến một toà cung phủ, trong có ba chiếc ngai, bên cạnh có tấm phản và một cái gông sơn đỏ. Hỏi người gác cửa, họ bảo: “Đây là toà Diêm Vương xử kiện. Cái gông đỏ kia để chờ quan Trạng làng Sinh Kế.” Giáp Hải nghe vậy, vội vàng lui ra.

Sứ giả lại đưa ông đến một nơi đền đài mát mẻ, cảnh vật lạ lùng. Giáp Hải thấy Giáp Phong đang ngồi đánh cờ với một ông quan khác. Phong ngoảnh ra nhìn cha, nhưng không nói câu nào. Ông quan kia hỏi sao nhìn người ta mãi thế. Phong đáp: “Trước kia tôi ở trên trần, có ở nhờ nhà ông ấy hơn ba mươi năm. Vì ông ấy xử oan mất một mạng người, nên tôi không ở nữa. Nay thấy ông ấy xuống đây, chẳng lẽ không nhìn một chút.” Giáp Hải lặng lẽ đi ra. Sứ giả đưa về thì tỉnh.

Tỉnh dậy, Giáp Hải biết đó là món nợ oan gia, lẽ nhân quả nhà Phật nói quả không sai. Ông cho gọi nhà người học trò bị xử ngày trước, đưa tiền về làm chay cho người ấy. Từ đấy nhà ông yên ổn. Về sau ông làm đến Lại bộ thượng thư, Thái bảo, tước Sách quốc công rồi về trí sĩ. Ông nhận mộ tổ ở làng Bát Tràng, quê của người cha năm nào, nên văn chỉ huyện Gia Lâm thờ ông. Có ông tiến sĩ Nguyễn Mậu Thịnh cho rằng ông là người Sinh Kế, lại làm quan nhà Mạc, định xoá tên khỏi sổ tiên hiền. Đêm ấy Nguyễn Mậu Thịnh mơ thấy Giáp Hải mắng: “Ta có tội gì mà mày dám xoá tên ta? Bọn hậu sinh dám khinh nhờn tiền bối, rồi sẽ biết báo ứng!” Ông kia sợ, không dám xoá nữa. Đến nay, huyện Gia Lâm vẫn thờ, làng Bát Tràng vẫn cúng tế ông.