Về kệ Người lớn

Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây

Khoảng 8 phút · 10 cảnh

Chàng học trò Hà Nhân lên kinh học, gặp hai người con gái áo hồng áo xanh nơi khu trại bỏ hoang phía tây thành. Mối tình thơ và mộng kéo dài nửa năm, cho tới ngày chàng biết hai nàng chỉ là hồn của cây đào và cây liễu.

Cốt truyện theo: Truyền kỳ mạn lục, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây

Vào đời nhà Trần, có một chàng học trò họ Hà, tên là Nhân, quê ở miền quê xa, lên kinh đô theo học một ông thầy có tiếng. Chàng ở trọ trong một ngõ nhỏ, ngày ngày ôm sách đến nhà thầy. Đường đi học của chàng ngang qua một khu trại cũ ở phía tây thành. Đó từng là trang trại của một vị quan lớn đời trước. Quan mất đã lâu, con cháu tản mát, nhà cửa đổ nát, chỉ còn khu vườn rộng cỏ mọc um tùm. Giữa vườn có một cây đào cổ thụ và một cây liễu già rủ bóng bên hồ. Hà Nhân là người mơ mộng, mỗi lần đi qua lại dừng chân ngắm cảnh hoang vắng ấy mà ngậm ngùi.

Một buổi sáng mùa xuân, Hà Nhân đi ngang qua trại thì gặp hai người con gái từ trong vườn bước ra. Một nàng mặc áo hồng, má đỏ như hoa, nói cười tươi tắn. Một nàng mặc áo xanh, dáng người mảnh mai, mắt nhìn xuống e lệ. Chàng đứng sững, rồi đánh bạo đến chào. Hai nàng không tránh, chỉ mỉm cười. Nàng áo hồng xưng là Đào, nàng áo xanh xưng là Liễu, nói rằng họ là người trong họ nhà quan cũ, vì nhà sa sút mà về ở nhờ khu trại này. Họ trò chuyện mấy câu rồi chia tay. Suốt ngày hôm ấy, Hà Nhân ngồi trước trang sách mà chẳng đọc được chữ nào.

Chiều hôm ấy, khi trăng vừa lên, có tiếng gõ cửa phòng trọ. Hà Nhân ra mở thì thấy hai nàng Đào và Liễu đứng đó, tay cầm một bình rượu nhỏ. Nàng Đào cười nói: “Chàng là người hiểu chữ nghĩa, chị em thiếp ở nơi quạnh quẽ, muốn tìm người cùng ngâm vịnh cho vơi buồn.” Hà Nhân mừng như bắt được vàng, mời vào, thắp đèn, bày chén. Ba người uống rượu, bình văn, nói chuyện trăng hoa đến tận khuya. Từ đêm ấy, hai nàng cứ chập tối là đến, gà gáy là đi. Hà Nhân say đắm cả hai, chẳng còn thiết gì đến chuyện sách đèn.

Hai nàng đều giỏi thơ. Có đêm nàng Đào xướng một câu, nàng Liễu hoạ lại, rồi đến lượt chàng nối vần, cứ thế đến khi đèn cạn dầu. Có đêm cả ba làm thơ về bốn mùa, mùa xuân hoa nở, mùa hạ sen thơm, mùa thu lá rụng, mùa đông gió bấc. Lạ một điều, thơ của nàng Đào thì rực rỡ mà mau tàn, thơ của nàng Liễu thì mềm mại mà buồn bã, như có điều gì muốn nói mà không nói ra. Hà Nhân chỉ thấy hay, không hề nghĩ ngợi. Thầy học thấy chàng dạo này mặt mũi phờ phạc, bài vở bê trễ, hỏi han mấy lần, chàng chỉ ậm ừ cho qua.

Thấm thoắt đã nửa năm. Một hôm, người nhà ở quê lên, mang theo thư của người chú. Thư viết rằng chú đã hỏi cho chàng một người con gái nhà tử tế, định ngày cưới, bảo chàng phải về ngay. Hà Nhân bối rối. Chàng không dám nói với hai nàng, chỉ lặng lẽ thu xếp hành lý. Đêm ấy, hai nàng đến, thấy gói ghém sẵn sàng thì đã hiểu. Nàng Liễu cúi mặt khóc. Nàng Đào trách: “Chàng định đi mà không một lời từ biệt sao?” Hà Nhân hổ thẹn, nắm tay hai nàng mà hứa: “Ta về quê ít lâu rồi sẽ trở lại, không bao giờ phụ lòng hai nàng.”

Hà Nhân về đến quê thì người chú đã sửa soạn đủ cả. Chàng không dám cãi, nhưng trong lòng chỉ nghĩ đến khu vườn phía tây thành. Chàng viện cớ còn phải lên kinh thi cử, nói khéo xin hoãn ngày cưới. Người chú không bằng lòng, nhưng thấy cháu một mực, đành để chàng đi. Hà Nhân vội vã trở lại kinh đô, đường xa mà lòng nóng như lửa đốt. Về đến chỗ trọ, trời đã tối. Chàng ngồi chờ, quả nhiên lại nghe tiếng gõ cửa quen thuộc.

Nhưng lần này, hai nàng không cười nói như trước. Nàng Đào nói, giọng run run: “Chàng không phụ chúng thiếp, nên chúng thiếp cũng không dám giấu chàng nữa. Chúng thiếp không phải là người. Thiếp là hồn của cây đào, em Liễu là hồn của cây liễu trong khu trại phía tây. Chủ cũ trồng chúng thiếp từ thuở xưa, chăm bón như con cái. Chủ mất đi, vườn bỏ hoang, chúng thiếp lâu ngày hoá thành tinh, gặp chàng mà sinh lòng quyến luyến.” Nàng Liễu nói tiếp: “Đêm qua, trời nổi gió lớn, gốc rễ chúng thiếp đã bật lên cả rồi. Nay chỉ còn chút hồn vương lại để từ biệt chàng.”

Hà Nhân ôm lấy hai nàng mà khóc, nhưng vòng tay chỉ còn ôm được làn gió mát. Nàng Đào khẽ nói: “Duyên trời đã hết, chàng chớ đau lòng. Từ nay chàng hãy chăm lo đèn sách, đừng vì chúng thiếp mà lỡ cả đời.” Nàng Liễu đưa tay vuốt nhẹ mái tóc chàng, rồi cả hai nhạt dần như sương sớm. Trong phòng chỉ còn mùi hoa đào thoang thoảng và mấy chiếc lá liễu rơi trên mặt bàn. Hà Nhân ngồi lặng cho đến sáng.

Trời vừa hửng, Hà Nhân chạy ra khu trại phía tây. Trận gió đêm trước đã quật nát cả khu vườn. Cây đào cổ thụ gãy ngang thân, hoa rụng đầy mặt đất như tấm thảm hồng đã úa. Cây liễu già bật gốc, nằm vật bên bờ hồ, cành lá còn ngâm dưới nước. Chàng đứng giữa vườn hoang, nhớ lại từng đêm thơ rượu, từng lời hẹn ước, nước mắt chảy dài. Chàng về mua hương hoa, viết một bài văn tế, đến đặt dưới gốc hai cây mà khóc mà khấn. Đêm ấy chàng nằm mơ thấy hai nàng hiện về, cúi đầu cảm tạ, rồi bay đi về phía trời tây.

Từ đó, Hà Nhân chẳng còn lòng dạ nào với khoa cử. Chàng cũng không về quê lấy vợ như lời chú dặn. Một ngày kia, chàng khăn gói rời kinh đô, vào núi sâu ẩn tu. Không ai biết về sau chàng ra sao. Người đời sau đọc chuyện này, có người thương cho mối tình lạ lùng giữa người và hoa cỏ. Cũng có người chê chàng học trò si mê sắc đẹp, bỏ cả việc học, việc nhà, để rồi sự nghiệp lỡ dở. Hoa đào, cành liễu vốn đẹp mà mong manh, như giấc mộng xuân chẳng ai giữ được lâu.