Vào cuối đời Hùng Vương, ở huyện Từ Liêm, có một người tên là Lý Thân. Ông sinh ra đã to lớn khác thường, lớn lên thì cao hơn hai trượng, đứng giữa làng như một thân cây đa, người đi đường phải ngước lên mới thấy mặt. Sức ông mạnh vô cùng, một mình vác nổi cây gỗ mà mười người khiêng không xong. Tính ông lại thẳng thắn, cương trực, ghét kẻ ức hiếp người hiền. Dân làng vừa nể vừa thương, mỗi khi có việc nặng đều tìm tới ông.
Bấy giờ trai tráng trong vùng phải đi phu dịch cho quan huyện. Lý Thân cũng phải đi. Một hôm, chỉ vì một lỗi nhỏ, viên quan coi phu sai lính trói ông lại mà đánh. Ông to lớn là thế, mạnh là thế, vậy mà phải cúi đầu chịu đòn trước bao nhiêu người. Đêm ấy, ông ngồi một mình bên sông, nhìn trời mà than: Làm trai sinh ra ở đời, phải như chim phượng bay cao, sao lại cúi đầu để kẻ khác sỉ nhục, sai khiến như tôi tớ thế này. Ông quyết từ nay phải học, để không ai coi khinh mình nữa.
Lý Thân bỏ việc phu dịch, khăn gói lên đường đi học. Người ta thấy một chàng khổng lồ ngồi chen giữa đám học trò, cúi gập người mới vừa với mặt bàn, mà chẳng ai dám cười, vì ông học chăm hơn tất cả. Ban ngày ông đọc sách, ban đêm ông thắp đèn chép kinh sử. Mấy năm trời miệt mài, ông thông hiểu cả văn lẫn võ, thơ sách đều làu, binh pháp đều thuộc. Tiếng tăm của người học trò khổng lồ dần lan khắp đất Âu Lạc.
Lúc ấy, An Dương Vương đã làm chủ nước Âu Lạc. Phương bắc, Tần Thuỷ Hoàng vừa thôn tính sáu nước, lập nên đế nghiệp, uy thế lừng lẫy. Muốn giữ hoà hiếu với nhà Tần, An Dương Vương đem Lý Thân dâng sang làm quà quý. Vào triều Tần, ông đứng giữa điện, cao lớn khác thường, khiến cả triều thần trầm trồ. Tần Thuỷ Hoàng hỏi chuyện, thấy ông đối đáp trôi chảy, hiểu sâu văn võ, cả mừng, phong ông làm Tư lệ hiệu uý.
Bấy giờ phương bắc nhà Tần luôn bị quân Hung Nô quấy nhiễu. Chúng cưỡi ngựa như gió, đến cướp phá rồi đi, biên ải không lúc nào yên. Tần Thuỷ Hoàng sai Lý Thân đem quân ra trấn giữ đất Lâm Thao. Ông khoác giáp đồng, đứng trên thành cao, bóng ông đổ dài xuống thảo nguyên. Quân Hung Nô kéo đến, từ xa trông thấy một vị tướng to lớn như thần, đều khiếp sợ quay đầu ngựa chạy. Mấy trận giao tranh, ông đều thắng. Từ đó, bọn chúng không dám bén mảng tới gần biên giới nữa.
Biên cương yên ổn đã lâu, Lý Thân cũng đã già. Ông nhớ quê, nhớ bến sông Từ Liêm, nhớ tiếng gà tiếng trâu của làng cũ, bèn dâng biểu xin về. Tần Thuỷ Hoàng tiếc lắm, nhưng cũng cho về, ban thưởng rất hậu. Về tới làng, ông bỏ giáp, mặc áo vải, sống bình dị giữa bà con như thuở còn trai trẻ. Ít năm sau, ông mất ở quê nhà. Dân làng thương tiếc, chôn cất ông bên bờ sông, nơi ngày trước ông thường ngồi nhìn trời.
Lý Thân đi rồi, quân Hung Nô lại kéo tới cướp phá. Tần Thuỷ Hoàng nhớ tới ông, sai người sang phương nam tìm, thì hay tin ông đã mất. Vua ngồi lặng hồi lâu, rồi nghĩ ra một kế. Vua sai thợ đúc một pho tượng đồng to lớn, giống hệt hình dáng Lý Thân, mặc giáp, cầm binh khí, đặt ngoài cửa cung Hàm Dương. Trong bụng tượng để rỗng, chứa được mấy chục người. Những người ấy ngồi bên trong, giật dây, làm cho tượng cử động đầu, giơ tay như người sống.
Sứ giả Hung Nô tới Hàm Dương, thấy vị tướng khổng lồ vẫn sừng sững trước cửa cung, đầu khẽ quay, tay khẽ động, thì kinh hãi, tưởng rằng Lý Thân vẫn còn sống. Họ vội về báo với chúa. Chúa Hung Nô nghe nói, không dám xâm phạm biên giới nữa. Một người đã khuất, chỉ còn hình bóng bằng đồng, mà vẫn giữ yên được cả một dải biên cương. Tần Thuỷ Hoàng truy phong cho ông, gọi ông là Ông Trọng, người đời vì thế quen gọi là Lý Ông Trọng.
Nghìn năm sau, vào đời Đường, Triệu Xương sang làm đô hộ đất Giao Châu, thường đi qua vùng Từ Liêm. Một đêm ông nằm mộng, thấy một cụ già cao lớn lạ thường tới bàn luận cùng ông về sách Xuân Thu, về đạo trị nước, lời lẽ sâu xa, uyên bác. Tỉnh dậy, hỏi ra mới biết làng ấy là quê cũ của Lý Ông Trọng. Triệu Xương cảm phục, sai sửa sang nền nhà cũ của ông, dựng đền thờ phụng. Về sau, khi Cao Biền đem quân qua đây, lại cho sửa đền, tạc tượng gỗ để dân thờ.
Đền thờ Lý Ông Trọng ở quê ông, nay quen gọi là đền Chèm, đứng bên bến sông Hồng đã hơn nghìn năm. Các triều vua sau đều gia phong cho ông, dân làng mở hội, rước kiệu, bơi chải trên sông. Người ta kể chuyện ông cho con cháu nghe, không chỉ vì ông cao lớn, sức khoẻ hơn người, mà vì một lẽ đơn giản: chàng phu dịch bị đánh hôm nào đã không ôm hận, mà đứng dậy học hành, để rồi làm vẻ vang cho quê hương mình ở tận nơi xa.