Về kệ Người lớn

Lý Công Uẩn thuở nhỏ ở chùa

Khoảng 7 phút · 11 cảnh

Đứa trẻ mồ côi sinh ra ngoài cổng chùa Ứng Tâm, trong tay có bốn chữ son “Sơn hà xã tắc”, dám đánh cả tượng Long thần vì bị mách tội ăn vụng oản. Lớn lên dưới sự dạy dỗ của sư Vạn Hạnh, cậu bé ấy thành Lý Thái Tổ, người dời đô ra thành Thăng Long.

Cốt truyện theo: Nam Hải dị nhân liệt truyện, truyện Lý Thái Tổ

Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp, xứ Bắc Ninh. Tục truyền rằng cha ngài nghèo khó, đi làm ruộng thuê cho chùa Tiêu Sơn ở huyện An Phong. Ở đấy, người cha đem lòng thương một cô gái trong chùa, rồi cô có mang. Nhà sư biết chuyện, đuổi cả hai đi nơi khác. Hai vợ chồng dắt díu nhau lên đường, chẳng biết đi đâu về đâu.

Đi đến rừng Báng, hai người mỏi mệt, ngồi nghỉ dưới bóng cây. Người chồng khát nước, xuống một cái giếng giữa rừng để uống, chẳng may sẩy chân ngã xuống giếng, chết đuối. Người vợ ngồi chờ mãi chẳng thấy chồng về, ra đến giếng xem thì đất đã đùn lên lấp kín miệng giếng. Nàng ngồi khóc một hồi lâu, rồi một mình lần đến chùa Ứng Tâm gần đấy xin ngủ nhờ.

Đêm hôm trước, sư chùa Ứng Tâm nằm mơ thấy thần Long thần giữ chùa báo rằng: “Ngày mai quét dọn chùa cho sạch, có Hoàng đế đến.” Tỉnh dậy, sư sai các chú tiểu quét dọn tinh tươm, rồi chờ từ sáng đến chiều. Chẳng thấy vua chúa nào, chỉ thấy một người đàn bà có mang lủi thủi xin vào ngủ nhờ. Sư lạ lắm, hỏi chồng con quê quán ở đâu. Người đàn bà kể tên họ nhà chồng và chuyện chồng sa xuống giếng. Sư cho bà ở nhờ ngoài cổng tam quan.

Được vài tháng, một đêm cả chùa bỗng thơm nức. Sư thức dậy nhìn ra tam quan, thấy sáng rực cả một vùng. Sư sai bà vãi giữ chùa ra xem, thì người đàn bà đã sinh được một đứa con trai. Bà vãi bế đứa bé vào cho sư xem. Trong lòng bàn tay đứa trẻ có bốn chữ son: “Sơn hà xã tắc”, nghĩa là non sông đất nước. Vừa xem xong, trời bỗng nổi cơn mưa to gió lớn. Khi bà vãi trở ra thì người mẹ đã mất. Sư sai đem chôn ở vườn sau chùa, rồi nhận nuôi đứa bé.

Đứa bé lớn lên ở chùa, mới sáu tuổi đã lanh lợi, có khí phách khác thường. Một hôm, sư sai chú mang oản lên chùa dâng cúng. Chú bé khoét ruột oản ăn trước. Sáng hôm sau, sư gọi chú lại mắng. Chú hỏi: “Ai nói với thầy thế?” Sư kể là được Long thần báo mộng. Chú tức lắm, chạy lên chùa đánh vào cổ tượng Long thần ba cái, rồi viết sau lưng tượng bốn chữ “Lưu tam thiên lý”, nghĩa là đày đi ba nghìn dặm.

Đêm ấy, Long thần lại báo mộng cho sư: “Hoàng đế đã đuổi tôi đi rồi. Ông ở lại, tôi xin đi.” Sư giật mình dậy sớm, lên chùa xem, thấy sau lưng tượng quả có mấy chữ ấy. Sư bắt các chú tiểu lấy nước rửa, nhưng kỳ cọ thế nào cũng không sạch. Sư bảo chính chú bé rửa. Chú chỉ nhổ một ít nước bọt, quệt nhẹ một cái, chữ sạch ngay.

Lên tám chín tuổi, sư cho chú bé sang chùa Tiêu Sơn theo học sư Vạn Hạnh. Một lần học bài không thuộc, chú bị thầy trói lại, bắt nằm dưới đất suốt một đêm. Nằm trong đêm lạnh, chú ngâm hai câu thơ, đại ý: đêm khuya chẳng dám duỗi chân ra, chỉ sợ làm đổ nghiêng cả non sông xã tắc. Sư Vạn Hạnh nghe được, biết đứa trẻ có khẩu khí của bậc thiên tử. Từ đấy sư rất kính trọng học trò của mình.

Lớn lên, Lý Công Uẩn khảng khái, có chí lớn, lập công được làm quan dưới triều Tiền Lê. Khi vua Thiếu đế nhà Lê bị giết, ông nằm ôm lấy thây vua mà khóc. Vua Ngoạ Triều lên ngôi, khen ông là người trung, cất nhắc lên làm chỉ huy sứ, thống lĩnh toàn bộ quân túc vệ trong cung.

Bấy giờ ở làng Cổ Pháp có một cây gạo cổ thụ bị sét đánh, bong lớp vỏ ngoài, trong thân cây hiện ra mấy câu sấm. Trong đó có câu: “Hoà đao mộc lạc, thập bát tử thành.” Chữ hoà, chữ đao, chữ mộc ghép lại là chữ Lê; chữ thập, chữ bát, chữ tử ghép lại là chữ Lý. Sư Vạn Hạnh xem xong, biết nhà Lê sắp đổ, nhà Lý sắp lên, bảo riêng với Công Uẩn: “Thiên hạ họ Lý tuy nhiều, nhưng không ai nhân từ khoan thứ, được lòng dân bằng ngài. Việc lớn này phi ngài thì không ai làm nổi.” Công Uẩn sợ lời ấy lộ ra ngoài, phải đem sư giấu ở chùa Tiêu Sơn.

Đến khi vua Ngoạ Triều mất, con nối ngôi còn nhỏ, Lý Công Uẩn đang cầm quân túc vệ trong cung cấm. Quan chi hậu Đào Cam Mộc bàn với các quan trong triều, cùng nhau tôn ông lên làm thiên tử. Đứa trẻ mồ côi sinh ra ngoài cổng tam quan năm nào, nay đã thành vua, mở ra nhà Lý.

Lên ngôi rồi, vua thấy kinh đô Hoa Lư chật hẹp, bèn dời đô ra thành Đại La. Nhân có điềm rồng vàng hiện lên, vua đổi tên là thành Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay. Ngài ở ngôi mười tám năm thì mất. Người ta bảo ngôi huyệt chỗ cái giếng trong rừng Báng, các gò chung quanh trông như đoá sen nở tám cánh, nên nhà Lý truyền được tám đời. Còn chùa Ứng Tâm, nơi ngài cất tiếng khóc chào đời, về sau dân gian gọi là chùa Dặn.