Về kệ Người lớn

Một điều gì đó

Khoảng 11 phút · 10 cảnh

Năm anh em, ai cũng muốn thành "một điều gì đó": thợ làm gạch, thợ xây, kiến trúc sư, thiên tài và nhà phê bình. Nhưng trước cổng trời, thứ được kể đến lại là cọng rơm của một bà lão nghèo đã đốt nhà mình để cứu cả thành phố. Truyện Andersen kể đầy đủ.

Cốt truyện theo: Truyện Andersen (Something)

Có năm anh em ngồi bàn chuyện đời mình. Người anh cả nói: "Tôi muốn thành một điều gì đó, làm được việc có ích cho đời. Tôi sẽ làm gạch. Gạch thì lúc nào người ta cũng cần." Người thứ hai lắc đầu: "Cái một điều gì đó của anh chẳng đủ với em. Làm gạch là việc của thợ phụ, máy móc cũng làm được. Em sẽ làm thợ xây. Có nghề, có thợ dưới tay, rồi thành thợ cả. Thế mới gọi là một điều gì đó." Người thứ ba cười: "Thợ cả thì vẫn chỉ là dân thường. Em sẽ làm kiến trúc sư. Phải bắt đầu từ chân phụ việc, đội mũ giấy, đi mua bia cho thợ, nhưng rồi em sẽ vào học viện, có danh hiệu, và những tòa nhà sẽ giữ tên em."

Người thứ tư bảo: "Em chẳng bao giờ đi theo vết người khác. Em sẽ là thiên tài, lớn hơn cả ba anh cộng lại. Em sẽ nghĩ ra một kiểu nhà mới, hợp khí hậu, dùng vật liệu sẵn có trong nước, lại xây thêm một tầng cho riêng thiên tài của em." Người em út, thứ năm, mới nói: "Nhỡ khí hậu với vật liệu chẳng ra gì thì sao? Em thấy rõ chẳng ai trong các anh sẽ thành cái gì đáng kể. Em không bắt chước ai. Em sẽ đứng ngoài, soi xét việc các anh làm. Việc gì cũng có chỗ chưa hoàn hảo, em sẽ tìm ra và nói cho mọi người biết. Thế cũng là một điều gì đó." Và anh giữ lời, trở thành nhà phê bình. Người ta bảo anh có cái đầu tốt, chẳng làm gì cả, nên chắc hẳn anh phải là một điều gì đó.

Chuyện năm anh em thì chẳng bao giờ hết, vì đời còn thì còn những người như họ. Nhưng rồi họ ra sao? Người anh cả làm gạch, sớm hiểu rằng mỗi viên gạch xong đem lại một đồng xu, dù chỉ là xu đồng. Nhiều đồng xu chồng lên thì cửa hàng nào cũng mở. Có những viên gạch vỡ, sứt, anh cũng chẳng bỏ đi. Trên bờ đê cao chắn biển có một bà lão nghèo tên Margaret muốn dựng căn nhà nhỏ. Anh cả cho bà hết số gạch vỡ, kèm thêm ít viên lành, vì anh là người tốt bụng. Bà dựng một căn nhà hẹp, cửa sổ lệch, mái rơm lợp vụng. Nhưng nó vẫn là chỗ che mưa, từ trong nhìn ra thấy cả biển rộng. Sóng mặn tung bọt trắng lên tường, căn nhà vẫn đứng vững, đứng mãi sau khi người cho gạch đã chết và nằm yên dưới mộ.

Người thứ hai học nghề xây, mãn hạn thì đeo túi lên vai đi khắp nơi, miệng hát bài ca của người thợ trẻ mơ ngày thành thợ cả. Về quê, anh thành thợ cả, xây hết nhà này đến nhà khác cho tới khi thành cả một con phố. Rồi chính con phố xây cho anh một ngôi nhà. Nhà không lớn, nền láng vôi, nhưng khi anh khiêu vũ cùng cô dâu trên nền ấy, nó trắng và sáng như ngọc. Anh đã có chỗ đứng, đã thành một điều gì đó, rồi cuối cùng anh chết, mà chết cũng là một điều gì đó. Người thứ ba thành kiến trúc sư, một quý ông. Con phố mới mang tên anh, ngôi nhà đẹp nhất phố là của anh, trước tên sau tên đầy danh hiệu. Khi anh mất, vợ anh vẫn được trọng như một phu nhân. Tên anh còn mãi trên góc phố.

Còn người thứ tư, thiên tài của gia đình, người muốn nghĩ ra điều mới lạ? Anh tự dựng một tầng lầu thật cao, nhưng nó sụp, và anh ngã theo, gãy cổ mà chết. Đám tang của anh thật lộng lẫy, cờ thành phố, kèn nhạc, hoa rải đầy đường, ba bài điếu văn bài sau dài hơn bài trước. Lúc sống hẳn anh thích lắm, vì anh chẳng thích gì bằng được người ta nhắc tới. Người ta còn dựng bia trên mộ anh, thật ra cũng chỉ là thêm một tầng nữa đè lên anh, nhưng đó cũng là một điều gì đó. Thế là cả bốn người anh đều đã chết. Người em út, nhà phê bình, sống lâu hơn cả, và thế là phải lẽ, vì anh được nói lời sau cùng, điều mà anh coi trọng nhất đời. Ai cũng bảo anh có cái đầu tốt. Rồi đến lượt anh. Anh chết, và đến đứng trước cổng trời.

Linh hồn bao giờ cũng vào cổng trời từng đôi một. Nhà phê bình đứng chờ, và người đứng cạnh anh lại chính là bà lão Margaret ở căn nhà trên đê. Anh nghĩ: "Hẳn là để làm nổi bật sự tương phản nên tôi với cái linh hồn khốn khổ này mới đến cùng lúc." Rồi anh hỏi: "Bà là ai thế, bà cũng muốn vào đây à?" Bà lão nhún mình chào, tưởng người đang hỏi mình là thánh Phêrô giữ cổng. "Tôi là bà lão nghèo, không còn người thân, là Margaret ở căn nhà trên con đê." "Thế bà đã làm được việc gì lớn lao dưới trần?" "Tôi chẳng làm được gì để đòi cửa này mở cho mình cả. Chỉ nhờ lòng thương mà được lách vào thôi." Anh hỏi bà đã rời thế gian ra sao, chỉ cho đỡ chán. Bà lão kể.

"Mấy năm cuối đời tôi ốm yếu, chẳng chịu nổi cái rét. Mùa đông năm ngoái khắc nghiệt lắm. Có mấy hôm trời dịu, băng đóng dày trên mặt vịnh xa tít tắp. Người trong thành kéo ra, khiêu vũ, trượt băng, ăn uống linh đình ngay trên mặt băng. Tiếng nhạc vọng vào tận căn phòng nhỏ của tôi. Chiều tối, trăng lên, tôi nằm trên giường nhìn ra biển, thấy nơi trời giáp nước có một đám mây trắng lạ lùng. Tôi nhìn mãi, thấy giữa đám mây có một chấm đen, cứ lớn dần, lớn dần. Tôi già rồi, hai lần trong đời đã thấy điềm ấy. Nó báo một trận bão dữ, nước triều dâng, sẽ phá vỡ mặt băng và nhấn chìm cả những người đang vui chơi trên đó. Già trẻ, cả thành phố đều ở ngoài ấy. Nếu không ai nhận ra cái điềm như tôi, ai sẽ báo cho họ?"

"Tôi sợ quá, tự dưng thấy mình có sức hơn mọi ngày. Tôi lết tới cửa sổ, mở được cánh cửa, rồi không đi thêm được nữa. Ngoài kia người ta vẫn reo hò ca hát. Còn đám mây trắng với chấm đen thì treo lơ lửng trên đầu họ. Tôi gào mà chẳng ai nghe. Rồi như có ý trời đưa tới, tôi nghĩ: thà đốt cái giường của mình, để cả căn nhà cháy rụi, còn hơn để bao nhiêu người chết thảm. Tôi châm lửa. Ngọn lửa đỏ bùng lên như ngọn đèn báo. Tôi lết được tới ngưỡng cửa thì ngã xuống. Người trên băng thấy lửa, tưởng một bà già ốm sắp chết cháy, ai nấy đều chạy vào bờ cứu. Rồi có tiếng ầm ầm như đại bác. Nước triều nhấc mặt băng lên, vỡ ra nghìn mảnh. Nhưng mọi người đã lên tới đê rồi. Tôi đã cứu được họ, chỉ có tôi không qua nổi cái rét và cơn sợ."

Cổng trời mở, một thiên thần dắt bà lão vào. Lúc đốt giường, bà đã đánh rơi một cọng rơm, giờ nó hóa thành vàng ròng, lớn dần, nở ra hoa và trái đẹp không bao giờ tàn. Thiên thần chỉ cọng rơm, nói với nhà phê bình: "Đây là thứ bà lão nghèo mang tới. Còn anh mang gì? Ta biết anh chẳng làm được gì, đến một viên gạch cũng không. Mà dù anh có quay lại làm được, viên gạch ấy chắc cũng vô dụng, nếu không làm bằng thiện ý. Nhưng anh không thể quay lại trần gian, ta chẳng làm gì được cho anh." Bà lão bèn xin cho anh: "Anh của cậu ấy đã cho tôi gạch đá dựng căn nhà nhỏ, với bà già nghèo như tôi là to lắm. Những viên gạch vụn ấy không thể thành bức tường đỡ cho cậu ấy sao? Xin thương cậu ấy, ở đây là nguồn của lòng thương mà."

Thiên thần nói: "Vậy thì chính người anh của anh, kẻ mà các anh coi là thấp kém nhất, người làm những việc tử tế mà các anh cho là tầm thường, đã gửi cho anh món quà của trời. Anh sẽ không bị đuổi đi. Anh được đứng ngoài cổng mà ngẫm nghĩ, ăn năn về đời mình dưới trần. Nhưng anh chưa được vào, cho tới khi làm được một việc tốt để chuộc lỗi, việc ấy với anh mới thật là một điều gì đó." Nhà phê bình nghĩ thầm: "Câu ấy mà để tôi nói thì hay hơn nhiều." Nhưng lần này anh không nói ra thành lời. Và với anh, giữ được câu ấy trong lòng, cuối cùng cũng là một điều gì đó.