Về kệ Người lớn

Mỵ Châu Trọng Thủy

Khoảng 8 phút · 10 cảnh

Thành Cổ Loa xây mãi không xong, Rùa Vàng hiện lên giúp An Dương Vương, để lại chiếc vuốt làm lẫy nỏ thần. Rồi một mối tình giữa công chúa Mỵ Châu và con trai Triệu Đà đã khiến cả cơ đồ Âu Lạc đắm vào bể sâu.

Cốt truyện theo: Lĩnh Nam chích quái, truyện Rùa Vàng

Sau khi họ Hồng Bàng hết vận, Thục Phán lên ngôi, xưng là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc. Vua cho đắp thành ở đất Phong Khê để giữ nước. Nhưng lạ thay, thành đắp tới đâu lở tới đó. Sáng dân phu đắp xong một đoạn, đêm đã sụp thành đống đất. Đắp lại bao nhiêu lần vẫn thế, người mệt mà công chẳng thành. Vua lo lắm, bèn lập đàn, trai giới, cầu đảo trời đất bách thần. Một hôm có cụ già râu tóc bạc phơ từ phương đông đi tới, đứng trước cửa thành mà nói: Đợi sứ Thanh Giang tới, cùng vua xây thành, thì thành mới xong. Nói rồi cụ đi mất.

Sáng hôm sau, vua ra cửa đông ngóng đợi. Bỗng thấy một con rùa vàng lớn từ mặt nước phương đông nổi lên, tự xưng là sứ Thanh Giang, nói được tiếng người, bàn được việc trời đất. Vua mừng rỡ, rước rùa vào thành bằng xe vàng, mời ngồi trên điện mà hỏi duyên cớ thành đổ. Rùa đáp: Núi này có tinh khí núi non, lại có hồn một ông vua đời trước trú ngụ, muốn báo thù cho nước cũ, nương vào một con gà trắng sống đã nghìn năm, nên đêm nào cũng phá thành. Phải trừ được yêu khí ấy, thành mới đứng vững. Rùa vàng chỉ cách cho vua trừ tà, yêu tinh tan đi, từ đó việc đắp thành không còn bị phá.

Chỉ nửa tháng sau, thành đã đắp xong. Thành rộng hơn nghìn trượng, cuộn tròn như hình vỏ ốc, nên người đời gọi là Loa Thành, cũng gọi là Cổ Loa. Rùa vàng ở lại cùng vua ba năm rồi xin trở về biển. Lúc từ biệt, vua cảm tạ mà hỏi: Nhờ ơn thần, thành đã vững. Nhưng nếu có giặc ngoài, lấy gì mà chống? Rùa vàng bèn tháo một chiếc vuốt trao cho vua, dặn: Đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa. Nói xong, rùa lặn xuống nước đông, không thấy đâu nữa.

Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm một chiếc nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy, đặt tên là nỏ Linh Quang Kim Quy Thần Cơ. Về sau, Triệu Đà ở phương bắc đem quân sang đánh Âu Lạc. Quân hai bên giáp nhau ở chân thành. Vua đem nỏ thần ra bắn, mỗi phát tên rời dây là hàng trăm quân giặc ngã xuống, đội ngũ tan tác. Triệu Đà thua to, phải chạy về đóng quân ở núi Trâu Sơn, không dám giao chiến nữa. Biết không thể thắng bằng sức, Đà bèn tính kế khác: sai người sang xin cầu hòa, và xin cho con trai là Trọng Thủy được cưới con gái vua là Mỵ Châu, để hai nước kết làm thông gia.

An Dương Vương không ngờ có kế gian, nhận lời gả con. Trọng Thủy sang Âu Lạc, ở rể trong thành Cổ Loa. Chàng là người tuấn tú, ăn nói dịu dàng, khéo chiều chuộng. Mỵ Châu thì ngây thơ, hiền hậu, đem cả tấm lòng con gái trao cho chồng mà chẳng chút nghi ngờ. Hai người sớm hôm có nhau, trong cung ai cũng bảo là một đôi đẹp. Nhưng trong lòng Trọng Thủy vẫn mang lời cha dặn trước lúc lên đường: phải dò cho ra vì sao Âu Lạc có sức mạnh khiến quân phương bắc không thể đến gần.

Một hôm, Trọng Thủy dỗ dành vợ: Nước nàng có phép gì mà quân cha ta không địch nổi? Cho ta xem một lần cho thỏa. Mỵ Châu tin chồng, đưa chàng vào nơi cất nỏ, chỉ cho xem chiếc lẫy bằng vuốt rùa. Trọng Thủy âm thầm làm một chiếc vuốt giả, giống hệt vuốt thật, rồi lén đánh tráo, giấu vuốt thần trong mình. Mỵ Châu không hề hay biết. Ít lâu sau, chàng nói với vợ: Ta xa cha mẹ đã lâu, xin về phương bắc thăm nhà. Hai nước nay tuy là thông gia, nhưng lỡ ngày sau có binh đao cách trở, ta biết tìm nàng ở đâu?

Mỵ Châu thương chồng, đáp: Thiếp có chiếc áo gấm lông ngỗng, lúc nào cũng mặc trong mình. Nếu có loạn lạc phải chạy đi, thiếp sẽ bứt lông ngỗng rắc ở những ngã ba đường làm dấu. Chàng cứ theo đó mà tìm, ắt sẽ gặp thiếp. Trọng Thủy ghi nhớ, từ biệt vợ lên đường. Về tới nơi, chàng trao vuốt thần cho cha. Triệu Đà mừng rỡ, lập tức dấy binh, kéo sang đánh Âu Lạc lần nữa.

Nghe tin giặc tới, An Dương Vương vẫn ung dung ngồi đánh cờ, cười mà nói: Đà không sợ nỏ thần sao? Quân giặc kéo đến sát chân thành. Vua đem nỏ ra bắn, nhưng lẫy thần đã mất, tên bắn ra rơi rụng, chẳng còn linh nghiệm. Quân Âu Lạc tan vỡ, thành Cổ Loa thất thủ. Vua vội lên ngựa, đặt Mỵ Châu ngồi sau lưng, chạy về phương nam. Trên đường chạy, Mỵ Châu bứt từng chiếc lông ngỗng trên áo, rắc ở mỗi ngã ba, như lời đã hẹn với chồng, mà không biết rằng chính những chiếc lông ấy đang dẫn đường cho giặc.

Chạy tới bờ biển, trước mặt là sóng nước mênh mông, không có thuyền qua, sau lưng giặc đuổi gần kề. Vua kêu lên: Trời hại ta rồi! Sứ Thanh Giang ở đâu, mau tới cứu ta! Rùa vàng liền nổi lên mặt nước, quát lớn: Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó! Vua bừng tỉnh, hiểu ra mọi chuyện. Mỵ Châu quỳ xuống, khóc mà khấn: Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, thì chết đi xin hóa thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối, thì chết đi xin hóa thành châu ngọc, để rửa mối nhục này.

Vua rút gươm, Mỵ Châu ngã xuống bên bờ biển. Máu nàng chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều hóa thành ngọc. Vua cầm sừng tê bảy tấc, theo rùa vàng rẽ nước đi xuống biển. Người đời truyền rằng nơi ấy là núi Mộ Dạ, ở đất Nghệ An bây giờ. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi tới nơi, chỉ còn thấy xác vợ nằm trên cát. Chàng ôm xác Mỵ Châu đem về táng ở Loa Thành; xác nàng hóa thành ngọc thạch. Thương nhớ vợ khôn nguôi, một hôm ra giếng tắm, Trọng Thủy như thấy bóng Mỵ Châu dưới đáy nước, bèn lao mình xuống giếng mà chết. Về sau, người ta mò được ngọc trai ở biển Đông, đem rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc càng thêm sáng trong.