Ở thành Đông Quan ngày trước, có ông Từ Đạt người Khoái Châu làm quan, thuê nhà cạnh cầu Đồng Xuân, sát vách nhà quan Thiêm thư Phùng Lập Ngôn. Nhà họ Phùng giàu, nhà họ Từ nghèo; họ Phùng ưa xa hoa dễ dãi, họ Từ chuộng tằn tiện giữ lễ. Lề thói khác nhau là thế, nhưng hai ông lấy nghĩa mà chơi, thân nhau như anh em ruột. Họ Phùng có cậu con trai tên Trọng Quỳ, họ Từ có cô con gái tên Nhị Khanh, trai tài gái sắc, tuổi cũng xấp xỉ. Gặp nhau trong những bữa tiệc, hai người mến tài nhau, ưng nhau, cha mẹ đôi bên cũng vui lòng. Thế là chọn ngày mối lái, định ngày cưới xin. Về làm dâu nhà họ Phùng, Nhị Khanh tuy còn trẻ mà cư xử khéo léo, họ hàng ai cũng khen là dâu hiền.
Trọng Quỳ lớn lên thì sinh tính chơi bời lêu lổng. Nhị Khanh nhiều lần can ngăn, chàng không sửa, nhưng vẫn nể vợ. Năm hai mươi tuổi, nhờ thế cha, chàng được làm một chức quan nhỏ. Bấy giờ ở Nghệ An có giặc. Các quan trong triều ghét ông Phùng Lập Ngôn hay nói thẳng, bèn xúm nhau tiến cử ông vào đó. Trước khi đi, ông bảo con dâu ở lại quê nhà. Trọng Quỳ quyến luyến vợ, không muốn đi. Nhị Khanh khuyên: “Cha vì nói thẳng mà bị ghét, ngoài mặt người ta tiến cử, trong bụng là đẩy vào chỗ chết. Lẽ nào để cha một mình vượt muôn dặm sóng gió, nghìn trùng lam chướng, sớm hôm không ai đỡ đần? Chàng phải đi theo. Em đâu dám vì tình riêng mà làm lỡ đạo hiếu.” Trọng Quỳ đành bày tiệc từ biệt, theo cha vào phương nam.
Lòng trời khó biết, việc người khó lường. Chẳng bao lâu, cha mẹ Nhị Khanh lần lượt qua đời. Nàng đưa tang về Khoái Châu, lo chôn cất cúng giỗ xong xuôi, rồi về ở với bà cô là Lưu thị. Bấy giờ có viên tướng họ Bạch, cháu họ ngoại của Lưu thị, muốn cưới Nhị Khanh, đem nhiều tiền bạc đến xin. Bà cô ưng ngay, nhân lúc vắng người bảo nàng: “Nhà Hồ cướp ngôi, triều chính đổ nát, loạn đến nơi rồi. Chồng cháu đi biệt sáu năm, sống chết chẳng rõ. Chi bằng chọn chỗ tốt mà nương thân, việc gì phải lẻ loi phòng không.” Nhị Khanh nghe mà sợ hãi, mấy tháng liền mất ngủ quên ăn. Bà cô biết nàng không đổi lòng, nhưng vẫn sửa soạn lễ cưới để ép.
Một hôm Nhị Khanh gọi người bõ già, đầy tớ cũ của nhà mình, mà nói: “Ta nhẫn nhục sống đến giờ là vì nghĩ chồng ta còn. Nếu chàng đã mất, ta thà theo chàng, quyết không mặc áo của chồng mà đi làm đẹp cho người khác. Chú có thể vì ta mà lặn lội vào xứ Nghệ dò tin không?” Ông bõ vâng lời. Binh lửa rối ren, đường sá hiểm trở, ông lận đận hàng tuần mới tới nơi. Hỏi ra, ông Phùng Lập Ngôn đã mất mấy năm rồi, còn cậu con trai ăn chơi phá sạch gia sản. Vừa vào chợ, ông gặp ngay Trọng Quỳ. Chỗ chàng ở chỉ có cái giường xiêu, vách trống bốn bề, ngoài bàn cờ, hũ rượu, chim mồi, chó săn thì chẳng còn gì đáng giá.
Trọng Quỳ bảo ông bõ: “Cha ta mất đã bốn năm. Ta vì giặc giã nghẽn đường, muốn về không được. Nhưng đêm nào trong mộng ta cũng ở bên Nhị Khanh.” Rồi chàng chọn ngày lên đường về quê. Vợ chồng gặp lại, nhìn nhau mà khóc. Đêm ấy, chàng làm một bài thơ dài, kể chuyện chia tay nơi trường đình, chuyện sáu năm lưu lạc, ngủ dưới đèo Ngang, ngâm thơ bên bến sông Diễn, nghèo khổ bê tha nơi đất khách, nay mới được trở về bến cũ với người xưa. Xa cách lâu ngày, tình vợ chồng càng thêm mặn nồng. Nhị Khanh tưởng rằng những ngày khổ đã qua, từ nay chỉ còn yên ấm.
Nhưng ngựa quen đường cũ. Về nhà chẳng bao lâu, Trọng Quỳ lại chứng nào tật ấy, suốt ngày rượu chè cờ bạc với một gã lái buôn tên Đỗ Tam. Chàng mê Đỗ lắm tiền, còn Đỗ thèm Trọng Quỳ có vợ đẹp. Uống rượu xong là đánh bạc, Đỗ cứ cố tình thả cho chàng thắng, khiến chàng tưởng kiếm tiền dễ như thò tay vào túi mình. Nhị Khanh răn: “Bọn lái buôn phần nhiều xảo quyệt, đừng chơi thân. Lúc đầu họ thả cho mình được, sau họ vét sạch của mình đấy.” Chàng không nghe. Rồi một hôm, giữa chiếu bạc đông người, Đỗ bày ra trăm vạn đồng tiền, đòi Trọng Quỳ đặt cược bằng chính Nhị Khanh.
Quen thắng mãi, Trọng Quỳ chẳng nghĩ ngợi gì, gật đầu ưng thuận. Giấy giao kèo viết xong, mọi người vừa uống rượu vừa gieo quân. Lần thứ nhất, chàng thua. Lần thứ hai, lại thua. Lần thứ ba, vẫn thua. Mặt chàng tái mét, cả chiếu bạc lặng đi, ai cũng ngơ ngác buồn thay. Trọng Quỳ đành cho gọi Nhị Khanh đến, đưa tờ giao kèo cho nàng xem, rồi nói như an ủi: “Tôi vì nghèo túng mà lụy đến nàng. Việc đã thế này, hối cũng không kịp. Hợp tan là chuyện thường. Nàng cứ tạm về với người ta, khéo chiều hắn, ít lâu tôi sẽ đem tiền đến chuộc.”
Nhị Khanh biết mình không thoát được, bèn giả cách nói ngọt: “Bỏ nghèo theo giàu, thiếp đâu dám từ chối. Âu cũng là số trời. Nếu chàng mới không chê dung nhan tàn tạ này, thiếp xin hết lòng hầu hạ như đã hầu hạ chàng xưa. Chỉ xin cho uống một chén rượu tiễn biệt, và về từ giã các con một lát.” Đỗ Tam mừng rỡ, rót đầy một chén xà cừ mời nàng. Uống cạn chén rượu, Nhị Khanh về nhà, ôm hai đứa con vào lòng, vỗ lưng chúng mà nói: “Cha các con bạc tình, mẹ đau lòng lắm. Chia ly là chuyện thường của thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó gì. Mẹ chỉ thương các con thôi.” Nói rồi, nàng lấy một sợi dây tơ thắt cổ mà chết. Đỗ Tam đợi mãi không thấy, sai người đến giục, thì nàng đã không còn nữa.
Trọng Quỳ ân hận khôn cùng, lo khâm liệm chôn cất vợ tử tế, làm bài văn tế khóc nàng hiền đức vẹn mười mà chịu phận oan. Từ đó chàng ở góa, cảnh nhà ngày một túng quẫn, ăn bữa sáng lo bữa tối, phải vay mượn khắp xóm. Chàng nhớ có người bạn cũ làm quan ở Quy Hóa, bèn tìm đến nhờ cậy. Dọc đường mỏi mệt, chàng nằm nghỉ dưới gốc cây bàng. Bỗng trên không có tiếng gọi: “Có phải chàng Phùng đó không? Nếu còn nhớ tình xưa, ngày ấy tháng ấy hãy đến chờ em trước đền Trưng Vương. Đừng nghĩ âm dương cách trở.” Giọng nói giống hệt Nhị Khanh. Chàng mở mắt, chỉ thấy một đám mây đen bay về phía tây bắc.
Trọng Quỳ đến đền đúng hẹn, chỉ thấy nắng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, vài tiếng quạ kêu xao xác. Trời tối, chàng nằm trên tấm ván cũ của một cây cầu. Gần cuối canh ba, có tiếng khóc từ xa vọng lại gần, nhìn kỹ thì chính là Nhị Khanh. Nàng nói: “Đa tạ chàng lặn lội tới đây.” Trọng Quỳ chỉ biết nhận hết lỗi về mình. Nàng kể: “Sau khi em mất, Thượng đế thương em chết oan, cho em làm việc ở đền này, coi giữ giấy tờ tấu sớ. Hôm trước đi làm mưa, thấy chàng nên mới gọi.” Đêm ấy hai người chuyện trò thủ thỉ. Nàng chau mày: “Em nghe các vị tiên nói nhà Hồ sẽ mất vào năm Bính Tuất, binh lửa lớn, người chết vô số. Rồi sẽ có một vị chân nhân họ Lê nổi lên ở phương tây nam. Chàng hãy dạy hai con theo người ấy.”
Trời gần sáng, Nhị Khanh vội đứng dậy từ biệt, vừa đi vừa ngoảnh lại, rồi thoắt cái biến mất. Từ đó Trọng Quỳ không lấy vợ nữa, chăm chỉ nuôi hai con khôn lớn. Về sau, khi Lê Thái Tổ dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, cả hai người con đều theo phò, làm đến chức quan hầu cận nhà vua. Con cháu họ còn ở Khoái Châu đến tận về sau. Người xưa bàn rằng: Nhị Khanh chết là để giữ nghĩa, theo điều phải chứ không theo điều sai, ấy mới thật là đạo theo chồng. Có người vợ như thế mà để nàng chết oan, Trọng Quỳ thật đáng chê trách. Muốn giữ được nhà, trước hết phải sửa mình cho ngay, để không hổ thẹn với vợ con, cũng là không hổ thẹn với trời đất.