Ở đất Từ Sơn có một ả danh kỹ họ Đào, giỏi đàn hát, lại thông chữ nghĩa. Năm thứ năm niên hiệu Thiệu Phong đời Trần, nàng được tuyển vào cung, ngày ngày hầu vua nơi tiệc rượu. Một hôm vua thả thuyền trên sông Nhị, xuống tận bến Đông Bộ Đầu, ngâm hai câu thơ tả tiếng chuông trong sương, bóng cây trên bãi cát. Các quan chưa ai nối được, nàng Đào liền ứng khẩu đọc ngay hai câu: bến lạnh, cá đớp bóng trăng; luỹ cổ, nhạn kêu trong sương. Vua khen mãi, từ đó gọi nàng là ả Hàn Than, nghĩa là bến lạnh.
Vua Dụ Tông mất, Hàn Than bị thải ra khỏi cung, sống ngoài phố, thường lui tới nhà quan Hành khiển Ngụy Nhược Chân. Vợ quan không có con mà tính lại hay ghen, ngờ nàng tư tình với chồng mình, bèn sai bắt nàng đánh một trận rất tàn nhẫn. Hàn Than căm giận lắm. Nàng đem hết trâm vàng thoa ngọc bán đi, lấy tiền thuê một kẻ thích khách lẻn vào nhà Nhược Chân báo thù. Nhưng kẻ ấy bị người nhà quan bắt được. Đem ra tra khảo, hắn khai ra tên Hàn Than.
Sợ bị bắt tội, Hàn Than cạo đầu, mặc áo nâu, trốn lên tu ở chùa Phật Tích. Nàng vốn thông minh, chỉ mấy tháng đã giảng kinh thuyết kệ rành rọt. Nàng dựng một cái am, mời văn nhân trong vùng đến làm văn bảng. Có một cậu học trò chừng mười bốn, mười lăm tuổi cũng đến. Hàn Than coi thường, đùa rằng: "Chú bé con này cũng làm văn được à?" Cậu chẳng giận, lui về dò hỏi gốc tích của nàng, rồi viết một bài văn vừa khen vừa giễu, kể rõ thói ca kỹ chưa phai của vị sư mới. Bài văn dán ở cổng chùa, người xa gần đua nhau chép. Hàn Than xấu hổ, đang đêm bỏ chùa mà trốn.
Nghe nói chùa Lệ Kỳ ở Chí Linh non xanh nước biếc, có sư cụ Pháp Vân và sư bác Vô Kỷ trụ trì, Hàn Than tìm đến xin ở. Sư cụ Pháp Vân không nhận, bảo Vô Kỷ rằng: "Người đàn bà này tính lẳng lơ, tuổi còn trẻ, sắc lại đẹp. Lòng thiền đâu phải đá, chỉ một áng mây nhỏ cũng đủ che mờ bóng trăng. Con hãy liệu lời từ chối, kẻo về sau hối không kịp." Vô Kỷ không nghe, cứ cho nàng ở lại. Sư cụ lập tức dời lên ở tận đỉnh núi Phượng Hoàng.
Ở chốn thanh tịnh mà nết cũ chẳng đổi. Mỗi lần lên chùa, Hàn Than lại mặc áo lụa, tô son điểm phấn. Cõi dục đã gần, lòng thiền dễ động, nàng cùng sư Vô Kỷ sa vào tình riêng. Hai người say đắm nhau như bướm gặp xuân, như ruộng khô gặp mưa, chẳng còn đoái hoài gì đến kinh kệ. Ngày ngày họ cùng làm thơ liên cú, vịnh mây núi, mưa núi, gió núi, trăng núi, vịnh chim, vịnh vượn, vịnh hoa lá trong rừng. Thơ nhiều đến không chép xuể, mà tiếng chuông chùa thì cứ thưa dần.
Vui quá thì buồn đến, xưa nay vẫn thế. Năm Kỷ Sửu, Hàn Than có mang rồi lâm bệnh, nằm liệt từ xuân sang hạ, ngồi dậy cũng phải có người đỡ. Vô Kỷ không biết thuốc men, chẳng biết chạy chữa ra sao, để nàng quằn quại mà chết trên giường cữ. Vô Kỷ thương xót vô cùng, quàn nàng ở cuối hành lang phía tây. Sớm tối, sư vỗ vào áo quan mà khóc: "Em vì anh mà chết oan uổng. Nếu được theo em, anh sẵn lòng lắm. Em có linh thiêng thì cho anh sớm theo về dưới đất, anh không muốn nhìn mặt sư cụ Pháp Vân nữa."
Mấy tháng sau, Vô Kỷ cũng vì thương nhớ mà sinh bệnh, lay lắt nửa năm, bỏ cả cơm cháo. Một đêm, Hàn Than hiện về bảo: "Thiếp nương cửa Phật mà lòng trần chưa dứt, nợ nghiệt còn vương. Sống chưa được trọn tình, chết xuống sẽ cùng nhau quấn quýt. Xin chàng rời cõi thiền, về chốn suối vàng, để thiếp được đầu thai mà trả cho xong món nợ oan gia ngày trước." Nói xong thì biến mất. Từ đó bệnh Vô Kỷ mỗi ngày một nặng. Sư cụ Pháp Vân nghe tin xuống núi, thì đã không cứu được nữa. Hai thầy trò nhìn nhau ứa nước mắt, một lát sau Vô Kỷ tắt thở.
Đêm ấy, mưa gió dữ dội, ở kinh đô nhiều nhà tốc mái đổ tường. Bà vợ quan Ngụy Nhược Chân nằm mơ thấy hai con rắn cắn vào sườn bên trái. Ít lâu sau bà có mang, sinh được hai con trai. Người anh đặt tên là Long Thúc, người em là Long Quý. Hai đứa trẻ mới đầy năm đã biết nói, lên tám tuổi đã biết làm văn. Vợ chồng quan Hành khiển vốn hiếm muộn, nay có con thì yêu quý như vàng ngọc, chẳng hề biết những đứa con ấy từ đâu mà đến.
Một ngày hè nóng nực, Nhược Chân ngồi hóng mát trên lầu cao. Có một nhà sư nghèo đi qua dưới đường, cứ đứng ngắm mãi, rồi than: "Lạ thay, toà lâu đài thế kia mà rồi sẽ thành vực thuồng luồng." Nhược Chân sợ hãi, chạy theo hỏi. Nhà sư bảo trong nhà ông đầy khí yêu quái, nếu không trừ thì chỉ năm tháng nữa cả nhà chẳng còn ai. Nhà sư xin xem mặt hết người trong nhà, thấy ai đúng thì gõ vào chậu làm hiệu. Xem hết lượt, chẳng phải ai. Đến khi gọi hai cậu con trai ra, nhà sư gõ chậu, giả vờ khen hai cậu sau này sẽ làm nên danh giá. Hai cậu giận dữ mắng nhà sư rồi phất áo đi vào.
Đêm ấy, Long Quý khóc bảo anh: "Ông sư hôm nay hình như đã dòm ra chúng ta. Nếu hắn biết thì nguy mất." Long Thúc cười: "Trừ được chúng ta, chỉ có sư cụ Pháp Vân. Kẻ khác thì ta giơ tay là cướp được bùa của họ. Còn Nhược Chân vì tình cha con, sẽ chẳng nghi ngờ gì." Nhược Chân đang mất ngủ, đi dạo một mình, tình cờ nghe được qua khe cửa sổ, sợ toát mồ hôi. Hôm sau, ông nói dối có việc, ra đi tìm khắp các chùa. Hơn một tháng mới tới chùa Lệ Kỳ. Chú tiểu trỏ lên đỉnh núi Phượng Hoàng: "Sư cụ ở trên kia."
Nhược Chân trèo thêm mấy dặm mới tới am. Sư cụ đang ngủ, ngáy như sấm. Nghe ông kể, sư cụ cười, từ chối rằng mình chỉ quét đất thắp hương, tụng kinh, chẳng biết bùa phép gì. Hai chú tiểu đứng hầu liền thưa: "Đạo Phật lấy từ bi làm bè, cứu người khỏi bể khổ. Thầy từ chối thì sao làm rộng được đạo." Sư cụ mới nhận lời. Ngài dựng đàn trên núi, treo đèn bốn phía, lấy son vẽ bùa. Chừng một trống canh, mây đen kéo đến bao quanh đàn, gió lạnh thổi ào ào. Sư cụ cầm tích trượng chỉ trỏ, quát mắng. Trên không vẳng tiếng khóc than, một lúc thì tắt, mây cũng tan. Sáng ra, sư cụ trao cho ông một phiến đá đã viết bùa, dặn hễ thấy yêu quái hiện hình thì ném vào.
Nhược Chân về đến nhà, thấy cả nhà đang khóc. Bà vợ kể: canh ba đêm nọ, hai con trai dắt nhau xuống giếng mà chết, nước giếng dềnh lên ngập cả thềm. Trước khi đi, chúng chỉ than rằng giá chậm vài tháng nữa thì việc đã xong, không ngờ bị lão sư điên phá hỏng. Nhược Chân ra vườn nam mở nắp quan tài xem, thì hai thây đã hoá thành hai con rắn vàng. Ông ném phiến đá, hai con rắn liền tan ra tro. Vợ chồng sắm vàng lụa lên núi tạ ơn, nhưng am cỏ đã phủ rêu, chẳng còn dấu chân người. Người xưa bàn rằng: kẻ tu hành phá giới thì tự chuốc lấy hoạ, mà người làm quan không giữ nổi nếp nhà, mầm hoạ cũng là tự mình gieo.