Ở tỉnh Quảng Bình có một cái hồ rộng mênh mông, người ta gọi là hồ Trời. Đi vòng quanh bờ hồ phải mất trọn một ngày. Nước hồ sâu thăm thẳm, không ai biết sâu đến mấy trăm sải. Quanh bờ, lau sậy và bụi rậm mọc um tùm, mặt nước lúc nào cũng lặng như tờ. Ở một làng ven biển gần đó có một người đàn ông nghèo khó suốt đời. Ông chẳng có nghề gì khác ngoài nghề câu cá. Ngày ngày ông vác cần ra biển, buông câu từ sáng tới chiều, được con cá nào thì đổi gạo con cá ấy, đắp đổi qua ngày.
Một hôm, chẳng hiểu sao ông lại nảy ra ý muốn bỏ biển, sang hồ Trời câu thử xem có được gì không. Ông đi từ tinh mơ, tới hồ khi mặt trời vừa lên. Ông ngồi trên bờ, buông câu, chờ mãi. Phao câu cứ nằm im trên mặt nước phẳng lặng như gương. Cả buổi sáng trôi qua mà ông chẳng được lấy một con cá nhỏ. Nắng mỗi lúc một gắt, ông mệt, bèn thu cần, chui vào một lùm cây rậm bên bờ hồ ngồi nghỉ cho mát.
Ngồi trong lùm cây, ông đưa mắt nhìn ra hồ. Bỗng mặt nước rẽ ra, hai người khổng lồ bước lên bờ, đầu quấn khăn, mình mặc áo đỏ, tay cầm gươm, mặt mũi dữ tợn. Ông sợ quá, nép sát vào bụi rậm, không dám thở mạnh. Hai kẻ ấy đảo mắt nhìn quanh một lúc rồi lại lặn xuống nước. Chưa kịp hoàn hồn, ông lại thấy mười người khác trồi lên, áo đủ các màu, tay cũng cầm gươm, đi tuần một vòng quanh bờ hồ, rồi cũng lặn mất.
Người câu cá run lẩy bẩy nhưng vẫn không rời mắt. Rồi từ đáy hồ, ba mươi chiếc thuyền chạm hình rồng nối nhau nổi lên. Giữa đoàn là một chiếc thuyền dát vàng, che lọng, cắm cờ rực rỡ. Trên thuyền vàng có ba vị chúa mặc áo đỏ, cầm loa chỉ huy các thuyền khác. Lính chèo vừa chèo vừa hát, tiếng hát vang khắp mặt hồ. Thuyền cập bờ, quân lính khiêng ba chiếc kiệu lên, trống đánh rộn ràng, cờ phất phới.
Ngồi trong bụi rậm, ông không nhìn rõ họ đang làm gì. Mải mê cảnh lạ, ông quên cả sợ, bò ra chỗ trống cho dễ xem. Ngay lập tức, các vị chúa trên thuyền vàng trông thấy ông, sai lính tới bắt ông giải đến. Vị chúa hỏi: "Ngươi đến đây từ bao giờ?" Ông run run thưa: "Tôi là người câu cá, xưa nay vẫn câu ngoài biển. Chẳng hiểu sao sáng nay tôi lại muốn đến đây. Câu suốt buổi không được gì, trời nắng quá, tôi vào bụi cây nghỉ."
Ông kể tiếp: "Tôi thấy hai lần những người mặt mũi dữ tợn lên nhìn quanh mà không thấy tôi. Tôi sợ, không dám ló ra. Nhưng thấy cảnh đẹp quá, tôi mới bước ra xem. Xin ngài tha tội." Vị chúa nói: "Được, ta tha cho ngươi về. Nhưng ngươi phải há miệng nuốt một lưỡi gươm hai đầu đều sắc. Ngươi sẽ sống trăm tuổi, miễn là không được kể với ai những gì đã thấy. Nếu kể, lưỡi gươm sẽ đâm ra khỏi mình ngươi, và ngươi sẽ chết."
Vị chúa lại ban thêm: "Ta cho ngươi chiếc nồi đồng này. Mỗi ngày ba bữa, ngươi chỉ việc đổ nước vào, gạo tự khắc có trong nồi. Ngươi không phải đi câu kiếm ăn nữa, và sẽ sống đến trăm tuổi mới chết." Rồi vị chúa quay sang, ra lệnh chém đầu những tên lính tuần quanh hồ, phạt chúng tội canh gác lơ là để người phàm nhìn thấy. Người câu cá ôm chiếc nồi đồng, lủi thủi trở về làng, không dám ngoái đầu nhìn lại.
Từ hôm đó, chiếc nồi đồng nuôi ông đủ ba bữa mỗi ngày. Chỉ cần đổ nước vào, mở vung ra đã thấy gạo. Ông thôi nghề câu, nhà cửa mỗi ngày một khá giả, con cháu đông đúc. Năm này qua năm khác, ông sống đến chín mươi tuổi mà vẫn chưa hề hé môi với ai, kể cả vợ con, về chuyện đã thấy ở hồ Trời năm ấy.
Một ngày giỗ, cả nhà sum họp quanh bàn thờ tổ tiên, ông lão ngồi nhìn con cháu mà nghĩ: "Ta đã chín mươi tuổi, sống thế là thọ lắm rồi. Nhà đã giàu, con cháu đã đông, ta còn ham sống thêm làm gì nữa. Thôi thì kể chuyện này cho con cháu biết. Lưỡi gươm có đâm ra mà chết thì cũng đành." Rồi ông kể hết đầu đuôi. Ông vừa dứt lời thì gục xuống mà chết. Từ đó hồ Trời được dân quanh vùng kính sợ, không còn ai dám đến đó câu cá nữa. Người ta bảo dưới đáy hồ sâu kia là cõi riêng của thần, người trần chớ nên dòm ngó.