Về kệ Người lớn

Chuyện người con gái Nam Xương

Khoảng 9 phút · 12 cảnh

Vũ Nương một mình nuôi con, phụng dưỡng mẹ chồng khi chồng đi lính. Chỉ vì một câu nói ngây thơ của đứa trẻ về chiếc bóng trên vách, người chồng ghen tuông đẩy nàng đến bến Hoàng Giang. Câu chuyện oan khuất nổi tiếng nhất của văn chương trung đại Việt Nam.

Cốt truyện theo: Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

Ở đất Nam Xương thuở trước có một người con gái họ Vũ, tên là Thiết, người làng quen gọi là Vũ Nương. Nàng không chỉ đẹp người mà còn đẹp nết, tính tình thùy mị, đoan trang. Trong làng có chàng Trương Sinh, con nhà giàu nhưng ít học. Mến dung hạnh của nàng, Trương Sinh xin mẹ đem một trăm lạng vàng đến hỏi cưới. Trương Sinh vốn đa nghi, đối với vợ lúc nào cũng phòng ngừa quá mức. Biết tính chồng, Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, nên trong nhà chưa từng xảy ra chuyện bất hòa.

Cưới nhau chưa được bao lâu thì có giặc Chiêm Thành quấy nhiễu biên giới. Triều đình bắt lính, Trương Sinh không có học nên phải đi đầu trong số những người ra trận. Hôm tiễn chồng, mẹ già dặn con giữ mình, đừng ham công danh mà liều lĩnh. Vũ Nương rót chén rượu đầy, nói với chồng: Chàng ra đi, thiếp không cầu chàng lập công, được phong quan tước. Thiếp chỉ cầu một điều: ngày về, chàng về lành lặn. Thiếp chỉ sợ chiến trận dài ngày, mẹ già ngóng mãi không thấy con, còn thiếp thì đếm từng mùa mà đợi. Nghe những lời ấy, mọi người đều rơi nước mắt.

Chồng đi được ít ngày thì Vũ Nương sinh một bé trai, đặt tên là Đản. Ngày qua tháng lại, thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, nỗi nhớ chồng trong nàng chẳng lúc nào nguôi. Mẹ chồng thương nhớ con mà sinh bệnh. Nàng hết lòng thuốc thang, lễ bái thần phật, lấy lời ngọt ngào khuyên lơn mẹ. Bệnh mẹ ngày một nặng. Trước lúc ra đi, bà cầm tay con dâu mà nói: Con ở với mẹ hết lòng, trời cao có mắt, ắt sẽ không bạc đãi con. Vũ Nương hết lời thương xót, lo ma chay tế lễ chu đáo như với cha mẹ đẻ của mình.

Những đêm dài một mình, Vũ Nương ngồi bên ngọn đèn dầu, ôm con vào lòng. Bé Đản hay hỏi cha đâu. Muốn con khỏi tủi thân, nàng trỏ chiếc bóng của mình in trên vách mà bảo: Cha Đản đấy. Cha đến với con đấy. Đứa trẻ tin là thật. Từ đó, đêm nào nó cũng nhìn lên vách mà cười.

Năm sau, giặc tan, Trương Sinh trở về. Biết tin mẹ đã mất, chàng đau lòng lắm. Chàng bế con ra thăm mộ mẹ. Đứa bé quấy khóc, chàng dỗ: Nín đi con, đừng khóc, cha về rồi. Đứa bé tròn mắt: Ông mà cũng là cha Đản à? Cha Đản có biết nói đâu. Trương Sinh gặng hỏi. Đứa bé kể: Tối nào cha Đản cũng đến, chẳng nói câu nào. Mẹ đứng dậy thì cha đứng dậy, mẹ ngồi xuống thì cha ngồi xuống. Mà cha chưa bế Đản lần nào.

Tính vốn hay ghen, nghe con nói vậy, Trương Sinh đinh ninh là vợ hư hỏng. Chàng không hỏi han ai, về nhà la mắng, nói ra những lời nhục mạ, rồi đánh đuổi nàng đi. Họ hàng, làng xóm bênh vực nàng, chàng cũng không nghe. Vũ Nương vừa khóc vừa phân trần: Thiếp xuất thân nghèo khó, về nhà chàng là được chỗ nương thân. Suốt những năm chàng đi, thiếp một lòng chờ đợi, chưa hề làm điều gì để người ta chê trách. Có điều gì chàng cứ nói ra, xin đừng vội kết tội thiếp. Nhưng Trương Sinh vẫn không tin, cũng không nói rõ vì đâu mà ngờ vực.

Biết không còn cách nào giãi bày, Vũ Nương tắm gội sạch sẽ, rồi một mình ra bến Hoàng Giang. Nàng ngửa mặt lên trời mà khấn: Trời cao xin soi xét. Nếu thiếp trong sạch, thì dưới sông này xin được hóa ngọc như nàng Mị Nương, lên bờ xin hóa cỏ như nàng Ngu Mỹ. Còn nếu thiếp từng phụ chồng, dối con, thì cá tôm dưới nước, chim chóc trên trời, cứ việc mà xâu xé. Khấn xong, nàng gieo mình xuống dòng sông. Mặt nước khép lại, chỉ còn những vòng sóng nhỏ loang dần vào bóng chiều.

Trương Sinh tuy giận vợ, nhưng cũng động lòng thương, cho người mò tìm xác nàng mà không thấy. Một đêm, chàng ngồi bên ngọn đèn với con. Bỗng đứa bé trỏ lên chiếc bóng của chàng in trên vách, reo lên: Cha Đản lại đến kia kìa! Trương Sinh lặng người. Người cha đêm đêm đến ngồi cạnh mẹ con nó, hóa ra chỉ là cái bóng in trên vách. Trương Sinh tỉnh ngộ thì việc đã rồi. Chàng thấu nỗi oan của vợ, đau đớn mà hối hận.

Cùng làng với Vũ Nương có Phan Lang. Một đêm, chàng nằm mộng thấy một người con gái áo xanh đến xin tha mạng. Sáng ra, có người đánh cá bắt được một con rùa mai xanh. Phan Lang nhớ giấc mộng, mua rùa đem thả. Về sau, cuối đời nhà Hồ, giặc Minh sang, dân làng chạy giặc ra biển. Thuyền đắm, Phan Lang dạt vào một hòn đảo, rồi được đưa xuống thủy cung. Người cứu chàng là Linh Phi, vợ vua biển Nam Hải, chính là con rùa xanh năm xưa.

Trong thủy cung, Phan Lang gặp một người đàn bà rất quen. Đó chính là Vũ Nương. Nàng kể rằng hôm ấy gieo mình xuống sông, được các nàng tiên cứu, đưa về đây. Phan Lang khuyên nàng về. Nàng lặng đi một lúc rồi nói: Chim bay mỏi còn nhớ tổ, thiếp sao không nhớ nhà. Có điều, một ngày nào đó, thiếp sẽ tìm cách về. Rồi nàng trao cho Phan Lang một chiếc thoa vàng, dặn: Xin anh đem vật này về cho chàng Trương. Nếu chàng còn nghĩ đến thiếp, thì dựng một đàn giải oan ở bến sông, thắp đèn soi xuống mặt nước. Khi ấy thiếp sẽ hiện về.

Phan Lang trở về, đưa chiếc thoa vàng cho Trương Sinh. Nhận ra vật của vợ, chàng bật khóc. Theo lời dặn, chàng lập đàn giải oan ba ngày ba đêm bên bến Hoàng Giang. Quả nhiên, Vũ Nương hiện về, ngồi trên chiếc kiệu hoa giữa dòng, theo sau là năm mươi chiếc xe cờ tán, lúc ẩn lúc hiện. Trương Sinh gọi tên vợ. Từ giữa dòng, nàng đáp vọng lại: Ơn Linh Phi cứu mạng, thiếp đã hứa ở lại hầu người, không thể nuốt lời. Tấm lòng của chàng, thiếp đã nhận. Nhưng đường về cõi người, thiếp không đi được nữa rồi. Giọng nàng xa dần. Kiệu hoa, cờ tán mờ đi trong sương, rồi mặt sông lại trống trơn.

Chuyện người con gái Nam Xương được Nguyễn Dữ ghi lại từ hơn bốn trăm năm trước, và đến nay vẫn được kể đi kể lại. Một người vợ hiền, một người con hiếu thảo, chỉ vì lòng ghen mù quáng của chồng và một câu nói ngây thơ của đứa trẻ, mà phải chịu nỗi oan không gì gột rửa được. Bên dòng sông ở Lý Nhân, Hà Nam ngày nay vẫn còn đền thờ Vũ Nương, như một lời nhắc: lòng tin trong một mái nhà mong manh như chiếc bóng trên vách.