Ở làng Đàm Xá, phủ Tràng An, thuộc đất Nam Định bây giờ, có một người tên là Nguyễn Chí Thành. Thuở nhỏ đang đi học thì gặp thiền sư Từ Đạo Hạnh, ông bèn theo thầy học đạo, ròng rã hơn bốn mươi năm. Đạo Hạnh khen ông là người có chí, truyền cho ấn quyết, đổi tên là thiền sư Minh Không, cho ở riêng một ngôi chùa tên là Quốc Thanh.
Tục truyền rằng hai thầy trò từng sang tận Tây Trúc học đạo. Một hôm, Đạo Hạnh đội lốt hổ hiện ra, định doạ học trò. Minh Không biết ý thầy, buột miệng nói: “Cầu được ước thấy, có khó gì.” Người ta bảo vì câu nói ấy mà kiếp sau Đạo Hạnh phải mang bệnh hoá hổ. Một câu nói tưởng như vô tình của người học trò, về sau hoá thành lời ứng nghiệm, và cũng chính người học trò ấy phải gánh lấy việc cứu thầy.
Lúc sắp viên tịch, Đạo Hạnh gọi Minh Không đến dặn: “Ngày xưa đức Thế Tôn đạo quả đã tròn mà còn phải chịu quả báo. Huống chi lâu nay đạo pháp suy kém, ta giữ mình sao cho trọn được. Kiếp sau ta sẽ ra đời làm vua, chắc không tránh khỏi bệnh nợ. Con nên nghĩ đến nghĩa thầy trò, đến lúc ấy phải cứu ta.” Minh Không cúi đầu vâng lời. Sách sử thì chép rằng trước khi đi, Đạo Hạnh còn để lại thuốc, giao cho Minh Không cất giữ, chờ đến ngày dùng.
Thầy viên tịch rồi, Minh Không trở về quê, cày cấy làm ăn như một người nông dân, giữ chùa hơn hai mươi năm. Ông chẳng cầu tiếng tăm gì với đời.
Năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư, đời vua Lý Thần Tông, nhà vua bỗng mắc một chứng bệnh kỳ lạ, chữa thuốc gì cũng không khỏi. Tinh thần rối loạn, ngài gào thét những tiếng nghe mà kinh người. Tục truyền rằng vua đang hoá thành hổ. Thầy thuốc trong thiên hạ được triệu về có đến hàng nghìn, nhưng chẳng ai biết chữa thế nào. Trong cung ngoài triều ai nấy đều lo sợ, không biết rồi sẽ ra sao.
Minh Không nghe tin, biết ngày phải trả nghĩa thầy đã đến. Ông chống gậy ra chỗ trẻ con chơi, cho chúng quà bánh, rồi dạy chúng một câu hát: “Tập tành vông, có ông Nguyễn Minh Không, chữa được Hoàng thái tử.” Ít lâu sau, đám trẻ nào cũng hát câu ấy. Tiếng hát lan dần đến tận triều đình. Vua sai sứ đi dò hỏi khắp nơi, lần theo câu hát mà tìm ra được ông thầy chùa quê đang cày ruộng ấy.
Thấy sứ giả đến triệu, Minh Không thổi một niêu cơm con, mời cả bọn chèo thuyền cùng ăn. Sứ giả bảo: “Người chèo thuyền đông thế kia, một niêu cơm bé tí thì ăn sao đủ?” Minh Không đáp: “Cứ ăn đi, lúc nào thiếu hẵng hay.” Ông sai xới cơm ra rá. Lạ thay, càng xới cơm càng nhiều, mấy trăm người ăn no mà vẫn không hết. Ăn xong, ông bảo mọi người: “Các anh cứ ngủ một lát, đợi nước triều lên rồi đi.” Họ nằm ngủ cả trong thuyền. Một lúc tỉnh dậy, thuyền đã ngược đến kinh đô.
Đến kinh, các thầy thuốc và thầy phù thuỷ đang túc trực đầy trên điện, mỗi người chữa một cách mà chẳng ai ăn thua. Thấy Minh Không ăn mặc quê mùa, họ khinh, không thèm chào hỏi. Minh Không lấy một cây đinh dài năm sáu tấc đóng lên cột điện, nói to: “Ai rút được cây đinh này ra thì mới chữa được bệnh hoàng đế.” Nói mấy lần, chẳng ai thèm đáp, cũng chẳng ai buồn thử. Ông bèn dùng hai ngón tay trái khẽ nhổ, cây đinh bật ngay ra. Bấy giờ cả điện mới im phăng phắc, không ai dám coi thường ông nữa.
Minh Không đi thẳng đến trước mặt vua, quát lớn: “Bậc đại trượng phu đã giàu sang đến ngôi thiên tử, sao còn cuồng loạn thế này?” Vua sợ hãi, run lẩy bẩy. Ông sai đem một cái vạc lớn, đổ nước hoà thuốc vào, đun sôi đến một trăm dạo. Rồi ông thò tay khuấy vào vạc thuốc đang sôi hai ba lượt, múc ra tắm cho vua. Tắm xong thì vua khỏi bệnh. Tục truyền rằng lúc ấy bao nhiêu lông lá lốt hổ trên người vua tuột ra hết.
Khỏi bệnh, vua phong Minh Không làm quốc sư, ban cho mấy trăm hộ dân để thu thuế mà ăn. Ông mất năm Đại Định thứ hai, thọ bảy mươi sáu tuổi. Mất rồi, ông vẫn rất linh thiêng, nhiều lần hiển ứng. Dân các làng cầu mưa cầu nắng đều thấy nghiệm. Các chùa ở huyện Giao Thuỷ, ở Phả Lại đều tô tượng Minh Không để thờ, đền đáp người học trò đã giữ trọn lời hứa với thầy.