Về kệ Người lớn

Ông vua muốn mạnh hơn số phận

Khoảng 12 phút · 10 cảnh

Ông ẩn sĩ đọc số mệnh qua những chiếc lá trôi trên suối, phán rằng công chúa sẽ lấy con trai một nữ nô tỳ. Nhà vua ra tay tàn nhẫn để chống lại lời ấy, nhưng càng cố bao nhiêu, số phận càng đưa chàng trai lại gần con gái ông bấy nhiêu. Truyện dân gian Ấn Độ trong tuyển tập Andrew Lang, kể đầy đủ cho người lớn.

Cốt truyện theo: Truyện dân gian Ấn Độ (Andrew Lang, 1904)

Ngày xưa ở xứ phương đông có một ông vua mê săn đến quên cả thân mình. Một hôm, ít lâu sau khi hoàng hậu sinh công chúa, vua đuổi theo một con hươu trắng như tuyết, bỏ xa cả đoàn tùy tùng, đến khi trời tối thì lạc giữa núi đá hoang vu. Ông lần theo tiếng nước, thấy dưới khe suối một ngọn đèn leo lét trước cửa hang. Bên bờ có một ông ẩn sĩ râu trắng, lặng lẽ thả lá khô xuống dòng nước, mỗi lần hai chiếc. Có khi cả hai trôi đi, có khi một chiếc xoay vòng dạt về chân ông. Vua hỏi ông làm gì. Ẩn sĩ đáp: ta đọc số phận con người. Số phận mỗi người đã định từ đầu, không ai thoát được. Vua cười, bảo ông chẳng cần biết số mình, chỉ tò mò số phận của đứa con gái nhỏ. Vua nài mãi, ông mới bảo: con gái nhà vua sẽ lấy con trai của Puruna, một nữ nô tỳ của vua xứ bắc. Không ai thoát được số phận.

Vua tức điên, cả đêm trằn trọc, nghiến răng thề lời phán kia sẽ không bao giờ thành sự thật. Về đến cung, ông viết thư xin vua xứ bắc bán cho mình nữ nô tỳ Puruna và con trai cô. Năm ngày sau thư trả lời đến: vua xứ bắc không bán, nhưng xin biếu. Vua cải trang làm sứ giả, cưỡi lạc đà ra bờ sông giáp ranh nhận người. Ông đưa người đàn bà tội nghiệp cùng đứa con trai đỏ hỏn lên lạc đà, phi một ngày một đêm vào sa mạc hoang. Đến một cái hang lớn, ông bắt cô xuống, rút gươm chém chết cô chỉ bằng một nhát. Nhưng dù cơn giận khiến ông tàn ác đến thế, ông vẫn không nỡ vung gươm vào đứa bé. Ông nghĩ đằng nào nó cũng chết. Rồi ông bỏ đứa bé lại trong hang, phi về cung.

Ở một làng nhỏ trong nước có bà góa già không con không cháu, sống nhờ bán sữa một đàn dê. Một dạo, con dê cái tốt nhất của bà chiều nào về cũng cạn sữa. Bà theo dõi, thấy nó lặng lẽ tách đàn, chui vào một cái hang. Bà theo vào, và kìa, con dê đang cho một bé trai bú, còn bên cạnh là thi hài người mẹ tội nghiệp. Bà lão vừa sợ vừa thương, nghĩ đứa bé này sẽ là con của bà lúc tuổi già. Bà bế bé về nhà, hôm sau mang thuổng trở lại chôn cất người mẹ tử tế.

Năm tháng trôi qua, đứa bé thành chàng trai đẹp đẽ, gan dạ mà chăm chỉ. Bà lão đặt tên cho chàng là Nur Mahomed. Năm chàng mười bảy tuổi, một chiều đi làm về, chàng thấy một con lừa lạ đang gặm bắp cải trong vườn, bèn cầm gậy đánh đuổi. Người hàng xóm kêu lên: này, sao đánh lừa của ông bán rong thế? Chàng đáp: ông ấy phải giữ lừa đừng cho ăn bắp cải nhà tôi, chiều nay nó còn sang nữa thì tôi cắt đuôi nó. Người hàng xóm lắm điều đem kể với ông bán rong, thêm rằng chàng còn dọa cắt mũi ông. Ít hôm sau, hai người lính đến làng tìm kẻ dọa giết một người bán rong vô tội. Mặc chàng cãi, họ vẫn giải chàng đi. Chàng đâu biết người bán rong kia chính là nhà vua cải trang.

Vua đang giận vì lời người ta kể lại, định xử thật nặng để làm gương. Bỗng trong triều có tiếng xôn xao, bà mẹ già khóc lóc xin được nói. Bà van xin cho đứa con hiền lành, chỗ dựa tuổi già của bà. Vua hỏi bà là ai. Bà là mẹ nó. Vua bảo: bà già thế kia, sao có đứa con trẻ thế? Sợ hãi, bà kể hết chuyện tìm thấy đứa bé trong hang. Càng nghe, mặt vua càng tối sầm, đến mức gần ngất đi vì giận và kinh ngạc. Thì ra đây chính là đứa trẻ ông đã bỏ cho chết, sau khi giết mẹ nó. Ông muốn giết chàng ngay, nhưng chàng chẳng có tội gì đáng chết, xử thế ai cũng sẽ gọi ông là bạo chúa. Ông đành nói: nếu nó chịu vào quân đội của ta, ta tha. Ông hứa cấp bổng lộc cho bà lão, còn Nur Mahomed mừng rỡ được làm lính.

Làm lính, Nur Mahomed gặp vận lạ. Hễ có việc gì khó và nguy hiểm, chàng luôn được chọn đi. Vua mong chàng bỏ mạng, nhưng càng gian nguy chàng càng tỏ ra can đảm, ai cũng quý. Chẳng bao lâu chàng vào đội cận vệ của vua. Một hôm đi hộ giá qua thành phố, một kẻ cầm dao găm từ trong hẻm lao ra phía nhà vua. Nur Mahomed đứng gần nhất, xông ra đỡ lấy nhát dao. May mũi dao trượt, chàng mau lành. Vua buộc phải thưởng, cho chàng làm tùy tùng thân cận. Từ đó tai nạn cứ tìm đến chàng: cầu gỗ sập dưới chân, cướp chặn đường, đá lăn trên đèo, gờ đá rơi ngay trước mặt trong hẻm phố. Chàng ngờ mình có kẻ thù, nhưng chỉ thấy buồn cười. Một hôm trực gác, chàng được bếp vua gửi đến một món thịt hầm thơm phức. Thấy con chó đói ngoài cửa, chàng ném cho nó một miếng. Con chó nuốt vội, chưa kịp quay đi đã lảo đảo, ngã lăn ra chết. Chàng lặng lẽ gói phần còn lại đem đi chôn, rồi trả đĩa không về bếp.

Sáng hôm sau thấy chàng tươi tỉnh vào chầu, vua giận sôi lên. Ông quyết thử lần nữa: giao cho chàng một bức mật thư gửi viên tổng đốc một tỉnh xa, cách năm ngày đường. Viên tổng đốc ấy kín miệng như mồ, chỉ biết tuân lệnh, và đúng lúc ấy công chúa đang ở chơi nhà ông. Vua trao bức thư niêm phong, dặn chỉ được đưa tận tay tổng đốc. Nur Mahomed giấu thư trong khăn xếp, phi ngựa ra khỏi cổng thành. Trưa ngày thứ ba chàng tới nơi, quan tổng đốc đang nghỉ, tối mới tiếp. Chàng giao ngựa cho lính, xuống khu vườn mát rượi đầy suối phun, cây mơ, cây dâu tằm, nằm dưới bóng cây nghe ong bay chim hót, chỉ ít phút đã ngủ say.

Trưa nào cả dinh cũng ngủ, nhưng công chúa hiếu động, hay giả vờ ngủ rồi lẻn ra vườn một mình. Chiều ấy, rẽ qua một góc, nàng suýt vấp phải một chàng trai lạ đang ngủ say, mặc quân phục cận vệ của cha. Từ nếp khăn xếp ló ra góc một bức thư. Tính tò mò nổi lên, nàng nhón chân rút nhẹ, thấy dấu niêm của cha thì hơi ngượng, nhưng rồi vẫn lấy hẳn. Dấu niêm sáp đã mềm vì nắng, khẽ gỡ là bung. Nàng đọc, và tái mặt: hãy chém đầu kẻ mang thư này, bí mật và lập tức, không được hỏi gì. Nàng nghĩ, thật tệ, ta không để một chàng trai đẹp đẽ thế kia bị chém đâu. Nàng lẻn về phòng, viết một tờ khác: hãy gả công chúa cho kẻ mang thư này, công khai và lập tức, không được hỏi gì. Rồi nàng khéo léo gỡ dấu niêm gắn sang, run run nhét lại vào khăn xếp của chàng trai vẫn đang ngủ.

Chiều muộn, Nur Mahomed tỉnh dậy, thấy thư vẫn còn, bèn vào trình quan tổng đốc. Đọc thư, ông hơi ngạc nhiên, nhưng thư bảo không được hỏi, mà ông thì biết tuân lệnh. Ông gọi vợ, bảo sửa soạn cho công chúa thành hôn ngay. Vợ ông kêu vô lý, ông chỉ đáp: lệnh vua đấy, tối nay phải cưới. Công chúa được gọi đến, ai cũng lạ thấy nàng bình thản nhận tin. Nur Mahomed thì sửng sốt, nhưng mừng vì nghĩ nhà vua ban ơn lớn. Cả thành đảo lộn, ông tổng đốc già đi đâu cũng lẩm bẩm: tuân lệnh, tuân lệnh. Đám cưới được cử hành, tiệc trong dinh, tiệc trong trại lính, đèn sáng khắp phố và vườn, người ta nhắc mãi đến cuối đời.

Hôm sau, quan tổng đốc gửi đôi vợ chồng về kinh cùng một đoàn kỵ binh, phái người đi trước dâng thư tâu việc. Đọc thư, vua đỏ mặt tía tai, chạy vào phòng khóa cửa gào thét đến mệt nhoài. Nhìn bức thư được gửi trả, ông nhận ra nét chữ con gái. Rồi ông nghĩ lại. Ông thương con, chẳng nỡ trị tội nàng, cũng chẳng muốn thiên hạ biết chuyện mà cười mình ngu. Thôi thì làm ra vẻ chính mình đã định cuộc hôn nhân này. Khi đôi trẻ về, vua đón tiếp long trọng, giao cho con rể một tỉnh để cai quản. Vua già mất, chàng lên ngôi, trị vì lâu dài yên ổn. Bà mẹ già sống trong cung con trai đến lúc mất bình yên. Còn ông ẩn sĩ thì chẳng ai tìm thấy nữa, nhưng cái hang vẫn còn đó, và lá khô vẫn rụng dày trước cửa cho đến tận bây giờ.