Đời nhà Trần, ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, xứ Hải Dương, có một chàng học trò tên là Phạm Ngũ Lão. Nhà vốn chỉ làm ruộng, đến đời chàng mới theo đòi chữ nghĩa. Ngũ Lão mặt mũi khôi ngô, sức khoẻ khác thường, muôn người khó địch, văn cũng giỏi mà võ cũng tài. Chưa đầy hai mươi tuổi, chàng đã có tính khảng khái hơn người.
Trong làng có ông Bùi Công Tiến thi đỗ tiến sĩ, mở tiệc ăn mừng. Cả làng kéo đến chúc tụng, chỉ riêng Ngũ Lão không đi. Mẹ chàng bảo: “Con phải biết ăn ở cho bằng người ta. Người ta ăn mừng, cả làng đến mừng, sao con không đến một chút cho phải phép?” Ngũ Lão thưa: “Thưa mẹ, con chưa làm nên được việc gì cho mẹ vui lòng, mà lại đi mừng người khác thì con lấy làm hổ thẹn lắm.”
Ngũ Lão hay ngâm thơ. Chàng thường ngâm một bài thơ, đại ý rằng: cầm ngang ngọn giáo giữ non sông đã bao nhiêu thu, ba quân mạnh như hổ báo, khí thế át cả sao trời. Làm thân nam nhi mà chưa trả xong món nợ công danh, thì nghe người đời kể chuyện Gia Cát Vũ hầu, chỉ thấy thẹn trong lòng.
Nhà Ngũ Lão ở cạnh đường cái. Một hôm, chàng ngồi xếp bằng bên vệ đường vót tre đan sọt. Đúng lúc ấy, Hưng Đạo Vương từ trại Vạn An về kinh, quân lính kéo theo rất đông. Lính đi trước dẹp đường thấy chàng ngồi chắn lối, quát bảo đứng dậy. Ngũ Lão vẫn ngồi yên như không nghe thấy. Một tên lính cầm giáo đâm vào đùi chàng. Ngũ Lão vẫn ngồi vững, chẳng hề nhúc nhích.
Xe Hưng Đạo Vương tới nơi, ngài thấy lạ, cho gọi chàng lại hỏi. Bấy giờ Ngũ Lão mới biết có quan quân đi qua, và mình đã bị đâm vào đùi. Hưng Đạo Vương hỏi: “Anh kia nhà ở đâu, sao ta đi qua mà cứ ngồi trơ ra như thế?” Chàng thưa: “Tôi đang mải nghĩ một việc nên không biết ngài đi qua.” Ngài lấy làm lạ, hỏi đến sách vở. Hỏi đâu chàng đáp đấy, từ kinh truyện đến binh thư thao lược, không sót chỗ nào, ứng đối nhanh như nước chảy. Hưng Đạo Vương sai lấy thuốc đắp vào vết thương, rồi cho chàng ngồi xe theo về kinh, tiến lên vua Trần Thánh Tông.
Vua thấy chàng có sức khoẻ lại có học thức, cho làm chức quản vệ sĩ. Các vệ sĩ không chịu, xin đấu sức với chàng. Ngũ Lão xin vâng, nhưng xin vua cho về nhà ba tháng thu xếp việc nhà, rồi sẽ đấu và nhận chức một thể. Về làng, chàng ra đồng tìm một cái gò cao, ngày ngày lùi lại mười trượng rồi chạy đà, nhảy vọt qua gò. Ba tháng ròng rã, chàng luyện cho đến khi thành thạo.
Hết hạn, Ngũ Lão vào kinh đấu sức. Đấu quyền với từng vệ sĩ một, không ai địch nổi. Chàng bèn thách tất cả các vệ sĩ cùng ra đấu một lúc. Hàng trăm người xúm quanh, Ngũ Lão tay đấm chân đá, nhảy nhót như bay. Ai chạm phải chàng không ngã quỵ thì cũng què gãy. Các vệ sĩ không ai đánh lại được, bấy giờ mới chịu phục.
Vua thấy chàng kiêu dũng như vậy, cho theo Hưng Đạo Vương đi đánh giặc Mông Cổ. Ngũ Lão đánh trận nào được trận ấy, lập công rất nhiều. Hưng Đạo Vương yêu mến, gả cho chàng người con gái nuôi là Nguyên quận chúa. Chàng học trò ngồi đan sọt bên vệ đường năm nào giờ đã là một vị tướng của nhà Trần.
Về sau, nước Ai Lao đem hơn một vạn voi sang cướp đất Thanh Hoá, Nghệ An. Vua sai Ngũ Lão cầm quân đi đánh. Ông sai dân chặt tre đực, mỗi cây dài chừng một trượng, chất thành từng đống dọc hai bên đường. Khi hai bên giáp trận, giặc thúc voi xông tới. Ngũ Lão tay không xông vào, gặp đống tre nào thì vớ lấy một dóng, đập mạnh vào chân voi. Voi đau, rống lên, quay đầu chạy, giày xéo cả vào quân Ai Lao. Ngũ Lão thúc quân đánh tràn sang, giặc tan vỡ, phải trốn về trong đêm.
Lại có lời tục truyền khác. Rằng khi còn hàn vi, Ngũ Lão xin mẹ đi tìm đường lập công danh. Trong nước chưa có dịp, chàng sang Ai Lao chăn voi cho vua nước ấy. Ông cầm một lá cờ đỏ để dạy voi, hễ phất cờ là voi quỳ xuống cả. Nghe tin giặc Mông Cổ quấy nước Nam, ông mới về theo Hưng Đạo Vương. Đến khi voi Ai Lao xông vào trận, ông chỉ việc phất lá cờ đỏ, đàn voi nhận ra hiệu cũ, phục cả xuống. Vì thế mà phá được giặc.
Nhờ những công lớn ấy, Phạm Ngũ Lão được thăng làm Điện tiền thượng tướng quân. Khi ông mất, triều đình phong làm thượng đẳng phúc thần. Dân làng Phù Ủng lập miếu thờ ông ngay trên nền nhà cũ, nơi bên vệ đường năm nào chàng trai ngồi đan sọt. Ông vốn là bộ tướng của Hưng Đạo Vương, nên các đền thờ Hưng Đạo Vương khắp nơi cũng thờ cả ông.