Ở huyện Gia Phúc, xứ Hải Dương, tức huyện Gia Lộc sau này, có hai làng nằm sát cạnh nhau. Làng Lâm Kiền có một người tên là Phạm Trấn. Làng Đoàn Lâm có một người tên là Đỗ Uông. Làng Đoàn Lâm thuở ấy có một con yêu tinh. Nó biến hoá đủ trăm hình vạn trạng, chuyên đi trêu ghẹo người làng. Dân làng tìm đủ mọi cách mà vẫn không trừ được nó.
Hồi Đỗ Uông còn nhỏ, có một đêm cậu đang ngồi học thì con yêu tinh thò tay qua cửa sổ, ngay trước bàn học, để trêu cậu. Hôm sau, Đỗ Uông kể chuyện với một thầy phù thuỷ. Thầy bày cho cậu lấy sợi chỉ ngũ sắc mà buộc lấy tay nó.
Đêm sau, con yêu quen thói lại thò tay vào. Đỗ Uông nhanh tay lấy chỉ ngũ sắc trói lại, buộc chặt vào song cửa sổ. Quả nhiên con yêu không biến hoá được nữa. Nó kêu van rối rít, nhưng Đỗ Uông nhất định không tha. Mãi đến gần sáng, nó lại kêu: “Ngày sau ông sẽ làm nên sang trọng lắm. Tôi chỉ muốn đùa ông một chút thôi, nỡ nào ông lại hại tôi?”
Đỗ Uông hỏi: “Với sức học của tao, liệu có đỗ nổi Trạng nguyên không?” Con yêu đáp: “Trạng nguyên đã có một ông họ Phạm rồi. Ông chỉ đỗ được Bảng nhãn thôi.” Đỗ Uông lại hỏi: “Mày có báu vật gì mà thiêng như vậy? Đưa tao xem thì tao tha.” Một lát, con yêu nôn ra một viên ngọc, cầm trong tay, ánh sáng loé khắp nhà. Nó nói: “Tôi thiêng được là nhờ có vật này. Nay xin dâng ông để giúp việc học hành.” Đỗ Uông cầm lấy viên ngọc, nuốt luôn vào bụng, rồi mới cởi trói cho nó đi. Từ đó con yêu mất thiêng, không quấy nhiễu ai nữa. Còn Đỗ Uông, văn chương mỗi ngày một hay, nổi tiếng khắp các trường, đến Phạm Trấn cũng không theo kịp.
Đến khoa thi hội năm Quang Bảo đời nhà Mạc, hai ông cùng chừng ba mươi tư tuổi, cùng đỗ thi hội. Đến hôm thi đình, Đỗ Uông nhìn đầu bài thì thấy toàn những chỗ mình thuộc lòng, đinh ninh Trạng nguyên đã nằm trong tay. Lúc ấy, Phạm Trấn ngồi trong lều làm văn, bỗng thấy phảng phất như có hai người đến giúp. Một người là Đông Phương Sóc, một người là Hàn Kỳ, hai bậc danh nhân đời xưa bên Tàu. Hai người đứng bên cạnh, đọc cho Phạm Trấn viết. Rồi Đông Phương Sóc quay sang bảo Hàn Kỳ: “Phải có một người sang bên kia, làm cho Đỗ Uông đau bụng, bớt sức văn của hắn đi mới được.”
Một lát sau, nghe tiếng Đỗ Uông ở lều bên kia rên khừ khừ, ôm bụng không viết được chữ nào. Đợi đến khi Phạm Trấn đã viết xong hơn một đoạn, Đỗ Uông mới đỡ đau mà làm bài. Nhờ thuộc nhiều nên bài vẫn đủ ý, nhưng sức văn đã kém đi. Đến hôm xướng danh, quả nhiên Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên, còn Đỗ Uông đỗ Bảng nhãn, đúng như lời con yêu đã nói. Phạm Trấn mừng lắm, buột miệng: “Phen này ta mới đè nổi Đỗ Uông!” Đỗ Uông nghe được, tức lắm.
Đến lúc vinh quy, quan Trạng và quan Bảng cùng về một đường. Đỗ Uông nhất định không chịu nhường Trạng đi trước, cứ cho ngựa đi sóng hàng ngang với ngựa Phạm Trấn. Đi đến chợ Bồng Khê, làng Hoạch Trạch, dân làng vốn biết tiếng hai ông hay chữ, nay thấy cùng vinh quy qua cầu làng, bèn ra xin một bài thơ để đề lên cầu. Hai ông bèn giao ước với nhau: “Cầu ngói này hơn mười gian. Đi hết bảy gian thì phải xong một bài thơ. Ai xong trước thì được đi trước, không được tranh nhau nữa.”
Phạm Trấn giữ đúng lời ước. Ông ngồi trên lưng ngựa, vừa đi vừa ngâm. Ngựa vừa qua khỏi gian thứ bảy thì bài thơ tám câu cũng vừa xong. Ai nghe cũng phục tài. Chỉ có Đỗ Uông là không chịu. Ông nói: “Bài ấy chẳng qua làm sẵn từ bao giờ, có phải mới làm đâu mà khen.” Nói rồi, Đỗ Uông lại thúc ngựa đi ngang hàng như trước.
Đi đến làng Minh Luân, lại có người vừa làm xong nhà mới, ra đón đường xin một bài thơ mừng. Phạm Trấn không cần nghĩ ngợi, ứng khẩu đọc ngay bốn câu ngắn. Ý thơ chúc gia chủ năm năm thêm giàu sang, ngày ngày hưởng vinh hiển, nay mừng nhà mới dựng xong. Lần này Đỗ Uông đã phải ngầm chịu bạn mình nhanh hơn mình.
Về đến cầu làng Đoàn Lâm, tục gọi là cầu Cốc, trong cầu có một cô gái bán hàng tên là cô Loan. Hai ông lại thách nhau làm một bài thơ Nôm, lấy đầu bài là “Cô Loan bán hàng cầu Cốc”. Luật đặt ra rất khó: câu nào cũng phải cài hai tiếng là tên giống chim. Qua hết cầu thì phải xong bài. Ai xong trước thì được đi trước, không được tranh nữa. Phạm Trấn ngồi trên ngựa, lại ngâm xong trước. Bài thơ đủ tám câu, nay người đời chỉ còn nhớ được bốn câu đầu. Bấy giờ Đỗ Uông mới chịu, nói: “Mở miệng ra là thành thơ. Nếu không có quỷ thần giúp sức thì sao được thế này?” Từ đó, Đỗ Uông nhường quan Trạng đi trước.
Một hôm, Đỗ Uông lén đi xem ngôi mộ tổ nhà Phạm Trấn. Hai bên ngôi mộ có hai gò đất nhỏ, người ta gọi là gò Thần đồng. Đỗ Uông chỉ vào mà nói: “Mấy phen thằng ấy đè được ta, là nhờ hai đống đất này đây!” Nói rồi lấy chân đạp lên hai gò đất. Từ đó, Phạm Trấn mắc bệnh điếc tai, chạy chữa mãi không khỏi.
Có người mách với Phạm Trấn rằng Đỗ Uông đã đạp lên gò Thần đồng. Phạm Trấn bèn tâu lên vua. Vua bắt Đỗ Uông phải đến làm lễ tạ ở mộ tổ nhà họ Phạm. Lễ tạ xong, tai Phạm Trấn mới khỏi. Hai ông đồ hai làng giáp giới, một người đỗ Trạng nguyên, một người đỗ Bảng nhãn, ganh nhau suốt một đời, để lại cho xứ Hải Dương câu chuyện còn truyền đến bây giờ.