Ở đất Cẩm Giàng ngày xưa có chàng Phạm Tử Hư, tài cao, tính phóng khoáng, chẳng ưa ai bó buộc mình. Chàng theo học ông xử sĩ Dương Trạm, một bậc thầy nổi tiếng mà không màng làm quan. Văn chàng hay, chàng biết thế, nên thường đem chữ nghĩa ra lấn lướt bạn đồng song. Thầy Dương Trạm nhiều lần gọi riêng chàng mà răn: “Tài như con mà kiêu, thì cái tài ấy sớm muộn cũng thành cái hại.” Lời thầy thấm dần. Tử Hư bắt đầu ghìm mình lại, nói ít đi, nghe nhiều hơn, cúi đầu trước người hơn tuổi. Năm này qua năm khác, người học trò ngạo nghễ ngày nào trở thành một kẻ sĩ ôn hòa, trung hậu, được làng xóm kính nể.
Rồi thầy Dương Trạm qua đời. Đám tang vừa xong, học trò đông là thế mà người nào cũng tản về nhà, lo việc riêng của mình. Chỉ một mình Tử Hư ở lại. Chàng dựng một túp lều cỏ ngay bên mộ thầy, sớm hôm hương khói, quét lá, nhổ cỏ, như con ở cạnh cha. Ba năm tròn chàng mới chịu rời đi. Đường khoa cử của chàng lại lận đận. Đến năm bốn mươi tuổi, Tử Hư vẫn chưa đỗ đạt gì. Chàng không oán trời, chẳng trách người, khăn gói lên kinh đô theo học thêm, thuê trọ trong nhà một người dân bên bờ hồ Tây, ngày ngày đèn sách như thuở còn trai trẻ.
Một buổi sớm, Tử Hư ra khỏi nhà trọ, mặt hồ còn phủ một làn sương trắng. Bỗng giữa không trung hiện ra một đoàn tàn vàng, kiệu ngọc lững lờ bay, theo sau là một cỗ xe nạm đầy ngọc châu, kẻ hầu người hạ nghiêm trang chỉnh tề. Chàng lén nhìn vào trong xe, rồi sững người: người ngồi đó chính là thầy Dương Trạm. Tử Hư vội vàng bước tới, toan quỳ xuống lạy. Thầy khẽ xua tay, nói: “Giữa đường không phải chỗ thầy trò hàn huyên. Tối mai con đến đền Trấn Vũ ở cửa Bắc, ta sẽ đợi.” Nói rồi, đoàn xe tan vào làn sương, chỉ còn mặt hồ lặng lẽ.
Tối hôm sau, Tử Hư sắm sẵn rượu và mấy món nhắm, đến đền Trấn Vũ đúng hẹn. Thầy trò gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Chàng rót rượu, hỏi: “Thầy mới khuất núi chưa bao lâu, sao nay đã hiển hách đến thế?” Dương Trạm cười: “Lúc sống ta chẳng có công trạng gì lớn. Ta chỉ giữ chữ tín với thầy với bạn, và quý những mảnh giấy có chữ, thấy rơi vãi đâu thì nhặt về đốt đi, không để người ta giẫm lên. Đức Đế quân khen là có lòng tốt, cho ta làm chức coi cửa Tử Đồng. Việc của ta là trông nom văn chương thi cử, xem học trò trong thiên hạ ai đỗ cao, ai đỗ thấp.”
Tử Hư mừng rỡ, hỏi ngay về đường công danh của mình. Thầy bảo: “Văn tài của con, đời này ít ai bì kịp, lại thêm tính trung hậu, thành thực. Chỉ vì hồi trẻ con hay đem chữ ra kiêu với người, nên trời bắt con đỗ muộn cho cái ngông ấy mòn đi. Bởi thế người xưa xét kẻ sĩ, trước hết phải xét cái nết.” Rồi giọng thầy trầm xuống: “Học trò bây giờ, trượt thì đổ cho quan trường mờ mắt, đỗ thì cho mình hơn cả bậc trước. Thấy thầy nghèo thì lảng, gặp bạn nghèo thì lờ. Ta dạy đến mấy nghìn người, nhiều kẻ nay áo gấm đai vàng, mà chẳng ai đến tưới một chén rượu lên mộ ta. Vì thế ta vẫn nhớ đến con.”
Tử Hư lại đem các quan đương thời ra hỏi từng người một: ông nọ làm đại thần mà tham không biết chán, ông kia coi việc dạy dỗ mà chẳng ra mẫu mực, người chăn dân thì dân khổ, người chấm thi thì thiên vị, người xử án thì để kẻ vô tội mang oan. “Những kẻ ấy khi mất đi có bị xét tội không, hay cứ được vinh hiển mãi?” Dương Trạm cười: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Lưới trời thưa mà chẳng lọt, chỉ là chưa đến lúc thôi. Người chăm làm lành, còn sống mà tên đã ghi ở cung trời. Kẻ quen làm ác, chưa chết mà án đã thành dưới âm phủ. Trên ấy không ai mua được chức, không ai lót tiền mà thoát tội đâu. Con hãy cố mà giữ mình.”
Chàng hỏi tiếp: “Học trò hay đến đền Đế quân cầu mộng, xin biết trước việc sau này, có thật được báo không thầy?” Thầy lắc đầu cười: “Đế quân ngày xét giấy tờ, đêm chầu Thượng đế, đâu có rảnh mà làm việc vụn vặt ấy. Người thành tâm mơ màng thấy gì đó, rồi tưởng là thật thôi.” “Vậy chuyện trời yết bảng cũng là lời đồn chăng?” “Không, việc ấy thì có thật.” Dương Trạm lấy ra một cuộn giấy niêm phong kín: “Đây là bảng thi mùa xuân sang năm, ta phải đem lên cửa trời.” Tử Hư liền xin được theo thầy lên chơi một chuyến. Thầy cầm bút son, viết thêm hơn mười chữ vào cuối tờ giấy, rồi bảo dọn tiệc. Chàng ngồi ghé bên xe, và cỗ xe cất mình bay thẳng lên trời.
Lên tới nơi, Tử Hư thấy một vùng tường bạc bao quanh, cổng lớn khảm xà cừ lộng lẫy, hai bên là lầu châu điện ngọc sáng vằng vặc như giữa ban ngày. Sông Ngân uốn quanh trước sau, gió thơm thoảng khắp hiên, hơi lạnh thấm vào da thịt. Cúi nhìn xuống, cõi trần chỉ còn bé tí như một bàn cờ. Thầy bảo: “Đây là kinh Bạch Ngọc mà người đời vẫn nói. Chỗ đám mây hồng ở giữa kia là cung Tử Vi, nơi Thượng đế ngự. Con đứng ngoài thành chờ ta.” Thầy cầm cuộn bảng đi vào, hồi lâu mới trở ra. Bỗng trên mặt thành có tiếng hô vang: người đỗ đầu khoa thi sang năm đã chọn được rồi, là một người họ Phạm.
Thầy dẫn chàng đi xem khắp nơi. Tòa thứ nhất đề biển “Cửa Tích Đức”, hơn nghìn người đội mũ hoa ngồi đứng thong dong. “Đó là những người lúc sống thương người, tùy sức mà giúp, không keo kiệt cũng không khoe khoang.” Tòa thứ hai đề “Cửa Thuận Hạnh”, người mặc áo mây đang múa hát. “Họ là những người hiếu thuận, anh em gặp nạn thì che chở nhau, mấy đời ở chung không nỡ chia lìa.” Tòa thứ ba đề “Cửa Nho Thần”, toàn người áo dài đai rộng. Thầy chỉ hai vị mặc áo lụa đội mũ sa: “Kia là ông Tô Hiến Thành đời Lý và ông Chu Văn An đời Trần. Cứ năm trăm năm, trời lại cho các vị ấy xuống trần làm người giúp đời.”
Còn hơn trăm tòa nữa chưa kịp xem thì trời đã sắp sáng. Thầy trò cưỡi gió bay xuống, về tới cửa Bắc vừa lúc trăm quan lục tục vào chầu. Tử Hư lạy tạ thầy rồi trở về nhà trọ. Mùa xuân năm sau, chàng đi thi, quả nhiên đỗ tiến sĩ. Từ đó về sau, việc lành việc dữ trong nhà, thầy vẫn thường hiện về báo trước cho chàng. Người đời sau bàn rằng: chuyện lên trời có thật hay không, chẳng cần gạn hỏi làm gì. Điều đáng nhớ là tấm lòng của người học trò không quên thầy khi thầy đã nằm xuống, và lời răn cho những ai được thầy dạy dỗ nên người, rồi lại quay lưng với thầy.