Về kệ Người lớn

Phạm Viên vào núi thành tiên

Khoảng 9 phút · 13 cảnh

Con quan Thị lang xứ Nghệ bỏ sách vở vào núi Hồng Lĩnh hái thuốc, gặp ông lão áo tu hành rồi trở về sau mười hai năm, mang phép tiên giúp người nghèo, dập lửa bằng một lọ rượu và đưa tang cha từ Thăng Long về Nghệ chỉ trong một đêm. Truyện Phạm Viên trong Nam Hải dị nhân liệt truyện, kể mới cho người lớn.

Cốt truyện theo: Nam Hải dị nhân liệt truyện, truyện Phạm Viên

Ở làng An Bài, huyện Đông Thành, xứ Nghệ An, có một nhà họ Phạm. Ông tổ nhà ấy hiền lành, ăn ở có phúc, nên gặp được một thầy địa lý người Tàu tìm cho một ngôi mộ tốt. Thầy nói: “Ngôi đất này sẽ phát hai đời. Một đời đỗ tiến sĩ, một đời thành tiên.” Quả nhiên, đến đời con là ông Phạm Chất thì thi đỗ tiến sĩ dưới triều vua Lê Thần Tông, làm quan tới chức Tả thị lang. Ông Phạm Chất sinh được hai con trai. Con cả tên là Phạm Tán. Con thứ tên là Phạm Viên.

Phạm Viên lớn lên, đã mười tám tuổi mà vẫn lười học, chỉ thích rong chơi. Ông Thị lang giận lắm, mắng con không biết lo đường công danh. Phạm Viên chỉ thưa: “Người ta quý gì cho bằng được cái mình thích. Phú quý tám mươi năm, rốt cuộc cũng chỉ là một giấc mộng kê vàng.” Chuyện kê vàng là chuyện xưa: có người nằm mơ thấy mình làm quan sang hơn hai mươi năm, tỉnh dậy thì nồi kê bên bếp vẫn còn chưa chín. Nói rồi, chàng bỏ nhà mà đi.

Phạm Viên lên núi Hồng Lĩnh hái thuốc. Chàng đi ròng rã ba ngày, vào tận chỗ rừng sâu không còn dấu chân người. Bỗng chàng gặp một cụ già chống gậy trúc, mặc áo của người tu hành. Phạm Viên biết ngay đây không phải người thường, liền quỳ xuống trước mặt cụ, kể hết chuyện mình. Cụ già không nói gì nhiều, chỉ dắt chàng đi. Đi chừng nửa quãng đường, hiện ra mấy gian nhà tranh. Trong nhà chỉ có một cái bàn, trên bàn một cuốn sách nhỏ, bên cạnh một cái vò nước. Ngoài ra không có gì cả, cũng chẳng có lấy một người hầu.

Phạm Viên ở lại đó với cụ già. Thỉnh thoảng cụ lại múc cho chàng một gáo nước trong vò, bảo phải uống cho hết. Rồi một hôm, cụ trao cho chàng một cái túi và dặn: “Về nhà cứ mở túi ra mà xem, khắc sẽ biết.” Cụ vừa dứt lời thì cả cụ lẫn nhà cửa đều biến mất, chỉ còn rừng núi trơ trơ. Phạm Viên tìm lối về, cứ nhắm hướng mặt trời mọc mà đi. Đi một lát đã thấy đầu làng. Về tới nhà, mới hay mình đã đi biền biệt mười hai năm.

Lúc ấy Phạm Viên đã ba mươi tuổi. Họ hàng, làng xóm ai cũng lấy làm lạ, nhưng không ai biết chàng đã thành tiên. Phạm Viên ở nhà, có khi ngủ một mạch mười ngày mới dậy. Có khi hai ba tháng mới ăn một thìa cháo. Ông Thị lang nhìn con, chỉ lắc đầu, gọi là thằng dở.

Phạm Viên có một bà cô đã ngoài bảy mươi, không con không cái. Chàng đưa bà hai mươi mốt đồng tiền và dặn: “Cô có mua gì thì chỉ tiêu hai mươi đồng thôi, để dành lại một đồng. Tự khắc sẽ có hai mươi đồng khác, đủ cho cô dùng trọn đời.” Bà cụ làm đúng như lời. Quả nhiên buổi sáng tiêu đi, buổi chiều trong túi lại đủ hai mươi mốt đồng. Được một năm thì bà mất, chuỗi tiền ấy cũng biến theo.

Có lần Phạm Viên lên chơi núi Ngọc Sơn, nằm trọ trong một quán hàng. Chàng bảo bà lão chủ quán: “Quanh đây rồi sẽ có hoả hoạn. Tôi để lại cho bà lọ rượu này. Hễ thấy cháy thì lấy rượu mà vẩy vào lửa, kẻo gió to thì cháy lan hết cả.” Đến tháng năm, quả nhiên có đám cháy. Đang mùa gió nồm thổi mạnh, không ai chữa nổi. Bà lão nhớ lời dặn, cầm lọ rượu vẩy vào đám lửa. Tự nhiên trời đổ mưa như trút, lửa tắt ngay. Nước mưa nồng mùi rượu, ba ngày sau vẫn chưa tan.

Một lần khác, Phạm Viên đi qua huyện Hoằng Hoá, thấy một ông già ngoài bảy mươi vẫn phải đi ăn xin. Chàng thương tình, cho ông một cây gậy và dặn: “Đến chợ nào, ông cứ cắm cây gậy này bên vệ đường, chẳng cần van xin gì. Tự khắc người ta sẽ cắm tiền lên đầu gậy. Đủ một trăm đồng thì nhổ gậy đi chỗ khác.” Ông già làm theo, từ đó ăn mặc dư dả. Đến khi ông qua đời, cây gậy cũng biến mất.

Phạm Viên có dạy một người học trò, nhưng chỉ dạy đúng hai chữ “cát cao”, nghĩa là cái gầu múc nước. Người học trò xin học thêm chữ khác. Phạm Viên bảo: “Sau này giàu sang, chỉ hai chữ ấy là đủ. Học nhiều cho mệt làm gì?” Về sau người ấy phải đi lính, canh thuyền. Một hôm chúa Trịnh đi chơi, sai biên tên mọi đồ vật trên thuyền. Đến cái gầu múc nước thì không ai biết viết chữ gì. Ngay cả quan Tham tụng Hà Tôn Mục đứng đó cũng không nhớ ra. Người lính canh thuyền bèn thưa: “Ngày trước tôi đi học, còn nhớ hai chữ cát cao là cái gầu múc nước.” Quan Tham tụng cho là người học rộng, tâu lên chúa. Thế là người lính được cất lên làm quan lục phẩm.

Năm Phạm Viên bốn mươi tuổi, cha chàng đang được vua chúa tin dùng, làm quan ở kinh. Một hôm, Phạm Viên ở nhà bỗng sai người nhà sắm đồ thờ, may áo tang, sắm gậy chống. Ai cũng không hiểu vì sao. Được vài ngày, quả nhiên có tin quan Thị lang đã mất ở kinh.

Bà phu nhân lo việc tang, định chở linh cữu xuống thuyền, theo đường biển về Nghệ. Phạm Viên không nghe. Chàng sắm đủ minh tinh, nhà táng, áo quan, võng lọng cùng mọi đồ nghi trượng, rồi xin đến lúc gà gáy thì rước linh cữu đi bộ từ Thăng Long về Nghệ. Ai nghe cũng cười, cho là người gàn dở. Ấy vậy mà đoàn đưa tang đi từ lúc gà gáy, đến khi mặt trời vừa mọc đã về tới đầu làng An Bài. Bấy giờ mọi người mới tin Phạm Viên có phép tiên.

Tang cha xong xuôi, Phạm Viên từ biệt mẹ rồi lại ra đi. Năm năm sau thì bà mẹ mất. Chiều hôm đưa đám xong, Phạm Viên trở về, khóc trước mộ mẹ, rồi để lại một cái hòm mà đi. Sáng hôm sau, người nhà ra mở hòm thì thấy đủ cả trâu, bò, lợn, gà, giò chả, bánh trái, nhiều không kể xiết. Lại có năm trăm quan tiền và một trăm cân bạc. Trên nắp hòm đề mấy chữ, ý rằng: đứa con mồ côi Phạm Viên kính dâng lễ cúng.

Từ đó về sau, có người gặp Phạm Viên ở Thăng Long, có người lại gặp ông ở cửa biển Thần Phù. Vào năm Bảo Thái, ông Trương Hữu Điền mở trường học ở Hà Nội. Một hôm, có người ăn mặc rách rưới bước vào xin làm văn. Chỉ chớp mắt đã xong bài, rồi biến mất. Ông Trương đọc bài văn, ngẩn người mà nói: “Văn này là lối văn nhà tiên. Hẳn là ông Phạm Viên lại đùa ta đây!” Phép biến hoá của Phạm Viên, người đời không biết đâu mà lường.