Về kệ Người lớn

Quan Âm Thị Kính

Khoảng 7 phút · 9 cảnh

Thị Kính bị oan là định hại chồng, giả trai đi tu thì lại mang thêm nỗi oan có con với Thị Mầu, vẫn lặng lẽ nhận hết về mình và nuôi đứa trẻ bị bỏ rơi. Tích chèo cổ về chữ nhẫn, kể lại thành văn xuôi.

Cốt truyện theo: Tích chèo cổ Quan Âm Thị Kính (khuyết danh)

Ngày xưa, ở một làng quê miền Bắc có cô gái tên là Thị Kính, con nhà Mãng ông, nết na hiền thục, chăm làm, ai cũng mến. Người ta kể rằng nàng vốn đã tu nhiều kiếp, đây là kiếp cuối cùng phải chịu thử thách trước khi thành chính quả. Đến tuổi lấy chồng, Thị Kính được gả cho Thiện Sĩ, con trai nhà Sùng ông, Sùng bà, một gia đình khá giả trong vùng. Thiện Sĩ là học trò, ngày đêm dùi mài kinh sử. Thị Kính về nhà chồng, thờ cha mẹ chồng chu đáo, lo cho chồng từng bữa ăn giấc ngủ.

Một đêm, Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, gục xuống ngủ thiếp đi. Thị Kính ngồi bên khâu áo cho chồng. Ngắm chồng ngủ, nàng thấy dưới cằm chàng có một sợi râu mọc ngược. Nàng nghĩ, râu mọc ngược thì không đẹp, lại sợ là điềm không lành. Nàng bèn cầm con dao nhỏ dùng để cắt chỉ, khẽ khàng định xén sợi râu đi. Đúng lúc ấy, Thiện Sĩ choàng tỉnh, thấy vợ cầm dao kề sát cổ mình thì hoảng hốt kêu thất thanh. Cha mẹ chồng chạy sang, cả nhà náo loạn.

Sùng bà một mực cho rằng con dâu có ý giết chồng. Thị Kính quỳ xuống, nước mắt ròng ròng, kể lại đầu đuôi, nhưng chẳng ai tin. Bà mẹ chồng mắng nàng là đồ bất nghĩa, lại chê nhà nàng hèn kém. Thiện Sĩ cũng nghe theo mẹ mà lặng thinh. Nhà họ Sùng gọi Mãng ông đến, trả con gái về. Bị đuổi khỏi nhà chồng mà không giải được nỗi oan, Thị Kính ôm cha khóc. Nàng nghĩ đời mình đã nhơ danh, không muốn làm khổ cha thêm, bèn quyết đi tìm cửa Phật mà nương thân.

Chùa chỉ nhận đàn ông. Thị Kính cắt tóc, giả làm con trai, đến chùa Vân Tự xin quy y. Sư cụ thấy người trẻ tuổi mà hiền lành, thành tâm, liền nhận cho tu, đặt pháp danh là Kính Tâm. Từ đó tiểu Kính Tâm sớm hôm quét lá đa, gánh nước, tụng kinh, gõ mõ. Không ai biết vị tiểu hiền lành ấy vốn là một người đàn bà. Kính Tâm sống lặng lẽ, khiêm nhường, ai nhờ gì cũng giúp, chưa từng than một câu.

Trong làng có Thị Mầu, con gái phú ông, tính tình lẳng lơ, ăn nói bạo dạn. Một hôm làng mở hội chùa, Thị Mầu lên lễ Phật. Vừa trông thấy tiểu Kính Tâm, cô đã mê mẩn. Cô lân la theo sau, nói lời trêu ghẹo, đưa cau, đưa trầu, đòi gặp riêng. Kính Tâm chỉ chắp tay niệm Phật, cúi mặt đi chỗ khác. Thị Mầu càng bị từ chối càng say mê, ngày nào cũng tìm cớ lên chùa. Không được Kính Tâm đáp lại, Thị Mầu về nhà buồn bực, rồi đem lòng ngả sang anh người ở trong nhà.

Ít lâu sau, Thị Mầu có mang. Làng bắt vạ, lý trưởng gọi cô ra đình tra hỏi cha đứa bé là ai. Thị Mầu không dám khai anh người ở, liền đổ cho tiểu Kính Tâm. Làng gọi Kính Tâm ra đình. Kính Tâm nghĩ, nếu nói mình là đàn bà thì phải cởi áo trước mặt mọi người, lại thành ra phạm giới, mà cũng không cứu được ai. Vị tiểu chắp tay im lặng, chịu đòn roi, chịu tiếng xấu. Sư cụ dù thương cũng phải giữ phép chùa, đuổi Kính Tâm ra ở ngoài cổng tam quan.

Thị Mầu sinh con, bị cha mắng, bèn đem đứa bé bỏ ở cổng chùa, nói là trả con cho bố nó. Đứa trẻ khóc ngằn ngặt giữa gió sương. Kính Tâm thương xót, bế lấy đứa bé, nghĩ rằng cứu một người còn hơn xây bảy tòa tháp. Từ đó, ngày ngày vị tiểu ôm con đi khắp xóm xin sữa. Có người cho, có người xua đuổi, có người mỉa mai sư hổ mang. Đêm đêm Kính Tâm ru con ngủ ngoài tam quan lạnh lẽo. Ba năm trời như thế, đứa bé lớn lên khỏe mạnh, quấn quýt gọi Kính Tâm là cha.

Sống khổ cực lâu ngày, Kính Tâm kiệt sức, ốm nặng. Biết mình không qua khỏi, Kính Tâm gọi đứa con nuôi lại gần, dặn con ngoan ngoãn, hiếu thảo. Rồi vị tiểu viết một lá thư gửi cha mẹ, kể hết mọi nỗi oan, gửi lại cho đứa bé. Viết xong, Kính Tâm nhắm mắt ra đi, nét mặt thanh thản. Sư cụ được tin, sai người làm lễ. Khi khâm liệm, người ta mới biết tiểu Kính Tâm là con gái. Cả làng sửng sốt, người thì hối hận, người thì xót xa, ai cũng cúi đầu trước tấm lòng bao dung ấy.

Lá thư được đọc lên, nỗi oan của Thị Kính sáng tỏ. Thị Mầu bị làng phạt, xấu hổ không dám nhìn ai. Thiện Sĩ nghe tin, hối hận vì ngày xưa không tin vợ. Đúng lúc ấy, trời quang mây tạnh, hương thơm ngào ngạt. Người ta thấy Thị Kính hiện lên trên tòa sen, mình mặc áo trắng, tay bế đứa trẻ, nhẹ nhàng bay lên trời. Đức Phật thương nàng chịu nhẫn nhục, chịu oan khuất mà vẫn giữ lòng từ bi, cho nàng thành Phật Quan Âm, người chuyên cứu khổ cứu nạn, che chở trẻ thơ. Từ đó người Việt thờ nàng là Quan Âm Thị Kính, và câu chuyện được đem lên chiếu chèo, diễn mãi qua bao đời.