Ngày xưa, có một chàng tiều phu nghèo sống một mình bên bìa rừng. Một buổi trưa, chàng đi đốn củi, lần theo tiếng nước chảy đến một con suối trong vắt giữa rừng sâu. Chàng sững người: dưới suối có mấy nàng tiên đang tắm, tiếng cười trong như ngọc, xiêm áo nhiều màu vắt trên những tảng đá ven bờ. Chàng nấp sau bụi cây, ngắm mãi không chán. Rồi chẳng biết nghĩ gì, chàng rón rén lại gần, lấy trộm một bộ xiêm áo, đem giấu thật kỹ.
Tắm xong, các nàng tiên lên bờ, khoác xiêm áo rồi bay vút lên trời. Riêng một nàng tìm mãi không thấy áo của mình, đành đứng lại bên suối mà khóc. Chàng tiều phu bước ra, an ủi nàng, rồi xin đưa nàng về nhà. Không còn cách nào khác, nàng đành theo chàng. Ngày tháng qua đi, thấy chàng hiền lành, chịu thương chịu khó, nàng bằng lòng ở lại làm vợ. Còn bộ xiêm áo, chàng đem giấu thật sâu dưới đáy bồ lúa, chỉ sợ một ngày vợ tìm thấy mà bay đi mất.
Hai vợ chồng sinh được một đứa con trai kháu khỉnh. Một hôm chồng đi vắng, có người hàng xóm sang vay lúa. Nàng xúc mãi, xúc đến tận đáy bồ thì thấy bộ xiêm áo năm xưa. Nàng mừng rỡ ôm lấy áo, nhưng nhìn đứa con thì lại rưng rưng. Nàng mặc áo vào, ôm con mà dặn: Mẹ là tiên trên trời, không thể ở mãi dưới trần. Con ở lại với cha. Nàng gỡ chiếc lược trên tóc, trao cho con làm kỷ vật, rồi bay lên trời.
Chàng tiều phu về nhà, không thấy vợ đâu, chỉ thấy đứa con ngồi khóc, tay cầm chiếc lược. Chàng hiểu ra tất cả, ôm con mà khóc. Từ đó, ngày nào chàng cũng dắt con ra con suối năm xưa, mong được thấy bóng vợ. Đứa bé cứ ngước nhìn lên trời, hỏi cha bao giờ mẹ về. Chàng chỉ biết xoa đầu con, bảo: Mẹ con sẽ về, con cứ giữ chiếc lược cho cẩn thận. Nàng tiên ở trên trời cũng thương chồng, nhớ con lắm, nhưng không dám xuống trần nữa. Đến ngày phải lấy nước suối tiên, nàng đành sai hai thị nữ xuống thay mình.
Một hôm, cha con chàng gặp hai thị nữ đang múc nước bên suối. Chàng xin hỏi tin tức vợ mình, hai nàng đều lắc đầu bảo không biết. Đứa bé tò mò ghé lại xem, chẳng may làm rơi chiếc lược vào hũ nước. Hai thị nữ mang hũ nước về trời. Nàng tiên rót nước ra, thấy chiếc lược của mình nằm dưới đáy hũ. Nàng biết ngay chồng con đang đợi mình bên suối, nước mắt rơi lã chã.
Nàng sai thị nữ đem xuống một chiếc khăn phép. Cha con chàng tiều phu trùm khăn lên đầu, thấy người bay bổng lên mây, chẳng mấy chốc đã tới thiên đình. Vợ chồng, mẹ con gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Nhưng rồi nàng buồn bã nói: Tiên và người là hai cõi khác nhau, không thể ở chung một nhà. Thượng giới không cho người trần ở lâu. Chúng ta chỉ được gặp nhau một lần này thôi, rồi chàng và con phải trở về.
Nàng bày tiệc tiễn chồng con, rồi cho hai cha con ngồi trên một chiếc trống lớn, buộc dây thả dần xuống trần. Nàng dặn: Khi nào xuống tới đất, chàng hãy đánh lên một tiếng trống, thiếp nghe thấy sẽ cắt dây. Lại gói cho con một nắm cơm để ăn dọc đường. Trống đang lơ lửng giữa không trung, đứa bé đói bụng, lấy cơm ra ăn. Một bầy quạ ngửi thấy mùi cơm, ào tới mổ, cánh đập vào mặt trống tung tung.
Ở trên trời, nàng tiên nghe tiếng trống, tưởng chồng con đã xuống tới đất, liền cắt dây. Chiếc trống rơi thẳng xuống biển. Hai cha con chàng tiều phu chìm giữa sóng nước mênh mông, không bao giờ trở về được nữa. Hay tin, nàng đau đớn khôn nguôi, ngày đêm khóc thương chồng con, không ăn không ngủ, rồi sinh bệnh mà mất. Chiếc trống, nắm cơm và bầy quạ tham ăn đã làm tan nát một gia đình. Cả thiên đình ai cũng ngậm ngùi.
Ngọc Hoàng thương cảm, cho cả ba người hóa thành sao. Chàng tiều phu thành sao Hôm, mọc lúc chiều tà. Nàng tiên thành sao Mai, mọc lúc trời rạng sáng. Còn đứa con thành chòm sao Đòn gánh, nằm ở khoảng giữa cha và mẹ. Từ ấy, sao Hôm mọc thì sao Mai đã lặn, sao Mai lên thì sao Hôm đã khuất, hai vợ chồng cứ mãi đuổi nhau trên bầu trời mà chẳng bao giờ gặp lại. Người đời nhìn sao, lại nhớ chuyện thương tâm của một gia đình bị chia cắt giữa hai cõi trời đất.