Đầu thế kỷ mười lăm, giặc Minh sang chiếm nước ta. Chúng đặt ách cai trị nặng nề, bắt dân lên rừng tìm trầm, xuống biển mò ngọc, thuế má chồng chất, làng xóm xác xơ. Ở vùng núi Lam Sơn đất Thanh Hóa, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa. Buổi đầu, nghĩa quân còn non yếu, nhiều lần phải lui vào rừng núi, người ít, lương thiếu, vũ khí thô sơ. Ở chốn thủy phủ, Đức Long Quân thấy lòng dân khổ mà người cầm cờ còn đơn độc, bèn định trao cho Lam Sơn một thanh gươm báu, nhưng trao theo cách riêng của thần.
Ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm, Thận quăng chài ở khúc sông quen. Tấm lưới trĩu xuống, tưởng được mẻ cá lớn, nào ngờ trong lưới chỉ có một thanh sắt dài. Thận ném nó xuống sông, chèo sang khúc khác. Quăng chài lần nữa, vẫn là thanh sắt ấy. Đến lần thứ ba, nó lại nằm trong lưới. Bấy giờ Thận mới giơ đuốc soi kỹ: đó là một lưỡi gươm, không có chuôi. Chàng đem về, dựng tạm ở xó nhà.
Về sau, Lê Thận gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Một lần, chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tùng ghé qua nhà Thận. Đêm ấy nhà không thắp đèn, vậy mà nơi xó nhà có một thứ cứ tỏa sáng mờ mờ. Lê Lợi lại gần, nhấc lên, thấy là lưỡi gươm của Thận, trên thân khắc hai chữ Thuận Thiên, tức là theo ý trời. Mọi người đều ngạc nhiên, nhưng chưa ai biết đó là vật gì.
Một lần khác, bị giặc đuổi gấp, Lê Lợi một mình chạy vào rừng. Giữa rừng có một cây đa cổ thụ, trên cao lấp ló một đốm sáng. Ông bám rễ đa mà trèo lên, gạt lá ra, thấy một cái chuôi gươm có nạm ngọc. Ông chợt nhớ lưỡi gươm không chuôi ở nhà Lê Thận, bèn mang chuôi gươm theo người.
Về đến trại, Lê Lợi đem chuôi ra lắp vào lưỡi gươm của Thận. Hai mảnh khớp vào nhau, không lệch một li. Lê Thận quỳ xuống, hai tay nâng thanh gươm lên trước mặt chủ tướng: Lưỡi ở dưới sông, chuôi ở trên rừng, nay về chung một mối. Ấy là trời muốn ngài gánh lấy việc lớn. Anh em chúng tôi xin theo ngài và theo thanh gươm này đến cùng. Tin lan khắp trại, nghĩa quân ai cũng thấy lòng vững thêm.
Từ khi có gươm thần, nghĩa quân như được tiếp thêm sức mạnh. Đi đến đâu, dân theo đến đó, góp gạo, góp người. Từ núi rừng Lam Sơn, nghĩa quân tiến vào Nghệ An, ra Thanh Hóa, rồi kéo thẳng ra Bắc. Thanh gươm báu đi trước, ba quân theo sau, giặc nghe danh đã chùn bước. Ở ải Chi Lăng, ở Xương Giang, viện binh của giặc lần lượt tan vỡ. Mười năm gian khổ, cuối cùng quân Minh bị vây chặt trong thành Đông Quan, không còn đường cứu viện.
Trong nghĩa quân, có người đòi trả thù cho hả giận mười năm đau khổ. Lê Lợi không nghe. Ông bảo: thắng bằng sức mạnh thì chỉ yên được một lúc, thắng bằng lòng nhân thì mới yên được lâu dài. Ông cho mở hội thề ngoài thành Đông Quan. Tướng giặc Vương Thông cùng các tướng thề rút hết quân về nước, không bao giờ trở lại. Lê Lợi còn sai cấp thuyền, cấp ngựa, cấp lương ăn cho hàng vạn quân Minh lên đường về quê. Mười năm chiến tranh khép lại bằng một con đường về nhà cho cả kẻ thua trận.
Đất nước sạch bóng quân thù. Lê Lợi lên ngôi vua, tức là vua Lê Thái Tổ, đóng đô ở Thăng Long. Ông cho phần lớn nghĩa quân về quê làm ruộng, sửa lại đê điều, mở trường dạy chữ, chia ruộng cho người nghèo, an ủi những nhà có người đi mà không về. Ruộng đồng lại xanh, chợ búa lại đông, khắp nơi yên vui.
Khoảng một năm sau, nhà vua cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Lục Thủy, giữa kinh thành. Mặt hồ xanh biếc, phẳng lặng như tấm gương. Hai bên bờ, liễu rủ thướt tha. Gió nhẹ đưa thuyền đi chầm chậm, các quan theo hầu ngồi lặng ngắm cảnh. Thanh gươm báu năm nào vẫn đeo bên hông vua, mười năm chưa rời người lấy một ngày. Bỗng mặt nước gợn sóng. Một con Rùa Vàng lớn nhô đầu lên, bơi thẳng về phía thuyền rồng.
Rùa Vàng dừng lại cạnh mạn thuyền, cất tiếng người: Giặc đã yên, việc lớn đã thành. Long Quân sai tôi lên xin lại thanh gươm báu. Nhà vua bấy giờ mới hiểu gươm từ đâu mà đến. Ông tháo gươm khỏi đai, hai tay nâng về phía rùa. Rùa Vàng ngậm lấy thanh gươm, quay mình, rồi lặn dần xuống đáy hồ. Mặt nước khép lại, chỉ còn một vệt sáng mờ chìm xuống, rồi tắt hẳn trong làn nước xanh.
Từ đó, hồ Lục Thủy được gọi là hồ Hoàn Kiếm, nghĩa là hồ Trả Gươm, người Hà Nội quen gọi là Hồ Gươm. Gươm thần được mượn khi đất nước lâm nguy, và được trả khi non sông đã yên. Câu chuyện nhắc người sau rằng gươm chỉ để giữ nước, không phải để mưu sự riêng. Ngày nay, giữa lòng Hà Nội, Tháp Rùa vẫn đứng lặng trên gò nhỏ giữa hồ, soi bóng xuống mặt nước xanh, như vẫn còn đợi Rùa Vàng nổi lên.